- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn G - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn G phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ V TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 370/2022/HS-ST Ngày: 28/12/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ V - NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hồ Nữ Hạnh Dung
Các hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Hồng và bà Nguyễn Thị Minh Luận
- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Hải Yến - Thư ký TAND TP.V
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố V tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Sáng - Kiểm sát viên
Ngày 28 tháng 12 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố V, tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 353/2022/HSST ngày 15 tháng 11 năm 2022 tại điểm cầu trung tâm: Phòng xử án trực tuyến Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố V và điểm cầu thành phần: Phòng xử án trực tuyến Trại tạm giam công an tỉnh Nghệ An theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 493/2022/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn G; Tên gọi khác: không; Sinh năm 1996 tại huyện C, tỉnh Nghệ An; Giới tính: Nam; Nơi ĐKHKTT: xóm 6, xã L, huyện C, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ học vấn: 11/12; Dân tộc: kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Hữu N và bà Nguyễn Thị H; Anh chị em ruột có 05 người, bị cáo là con thứ tư trong gia đình; Vợ, con: không; Tiền án, tiền sự, nhân thân: không. Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/08/2022 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn G là lái xe tải đường dài, chuyên nhận hàng tại cửa khẩu quốc tế L, tỉnh Quảng Bình. Khoảng tháng 7 năm 2022, trong một lần đi chở hàng tại cửa khẩu, G gặp và mua của một người đàn ông tên C (không rõ lai lịch, địa chỉ) 05 viên hồng phiến với giá 250.000 đồng để sử dụng. Ngày 11/08/2022, G đã sử dụng hết 02 viên trên xe ô tô, còn lại 03 viên G cất dấu trong người để sử dụng dần. Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 11/08/2022, G cùng chị Đậu Ngọc T (sinh năm 1999, trú tại: xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An) đến khách sạn T thuộc phường B, TP.V, tỉnh Nghệ An để thuê phòng 808 nghỉ. Đến 12 giờ 30 phút ngày 12/08/2022, tổ công tác Công an phường B tiến hành kiểm tra hành chính phòng 808, lúc này chị T đã đi ra khỏi phòng. Phát hiện lực lượng Công an đến kiểm tra, G đã bỏ 03 viên hồng phiến vào bồn cầu nhà vệ sinh nhưng chưa kịp xả nước thì bị Công an phát hiện thu giữ. Sau đó, tổ công tác đã dẫn giải Nguyễn Văn G cùng tang vật về trụ sở Công an phường B, TP.V, tỉnh Nghệ An lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Kết luận giám định số 1087/KL – PC09(Đ2-MT) ngày 18/08/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận: Mẫu chất tinh thể màu trắng thu giữ của Nguyễn Văn G gửi tới giám định là ma túy (Methamphetamine) có khối lượng là 0,170 gam.
Vật chứng thu giữ gồm: 01 phong bì thư đựng ma túy thu giữ của Nguyễn Văn G.
Cáo trạng số 360/CT-VKS-TPV ngày 14/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố V đã truy tố Nguyễn Văn G về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của BLHS.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS xử phạt Nguyễn Văn G từ 12 tháng – 15 tháng tù. Ngoài ra, đề nghị miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo và đề nghị xử lý vật chứng, án phí theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội của mình, không tranh luận gì mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố V, Kiểm sát viên đã được thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về nội dung:
Tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Văn G đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng Viện kiểm sát truy tố, không có tranh luận gì. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra và tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án. Vì vậy, có đầy đủ cơ sở để khẳng định: Vào hồi 12 giờ 30 phút ngày 12/08/2022, tại phòng 808, khách sạn T, khối 3, phường B, TP.V, Nghệ An, Nguyễn Văn G có hành vi tàng trữ trái phép 0,170g ma túy (Methamphetamine) để sử dụng thì bị Công an phát hiện, bắt quả tang. Như vậy, hành vi mà Nguyễn Văn G thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS như cáo trạng mà Viện kiểm sát truy tố là đúng người, đúng tội.
Vụ án thuộc loại nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Hành vi đó đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng, vi phạm các quy định của Nhà nước về việc quản lý các chất ma túy. Ma túy là chất gây nghiện, làm ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, giống nòi, là nguồn gốc gây ra nhiều tệ nạn xã hội và tội phạm nguy hiểm khác. Bản thân bị cáo nhận thức rõ ma túy là chất độc hại, Nhà nước cấm mua bán, tàng trữ, sử dụng, vận chuyển nhưng vẫn liều lĩnh thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, cần phải xử phạt bị cáo nghiêm minh, tương xứng với tính chất hành vi và mức độ phạm tội để cải tạo, giáo dục bị cáo và làm gương răn đe những đối tượng khác. Do đó, cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ để giáo dục riêng cũng như phòng ngừa chung.
Tuy nhiên, xét thấy quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải, ông nội và bố của bị cáo là người có công với cách mạng, với Quân đội được Nhà nước tặng thưởng Huân, Huy chương nên cần áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát cũng đủ nghiêm, để bị cáo thấy khoan hồng của pháp luật mà cải tạo, sửa chữa.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có công ăn việc làm ổn định, không có tài sản riêng nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
Trong vụ án này, theo lời khai của Nguyễn Văn G thì số ma túy này G mua của một người đàn ông tên C, do không xác định được lai lịch, địa chỉ cụ thể của người này nên cơ quan CSĐT Công an TP.V không có cơ sở để xử lý.
Đối với chị Đậu Ngọc T là người ở cùng phòng với G nhưng chị T không biết G cất dấu ma túy trong người nên không phạm tội.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 điều 47 BLHS và điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư niêm phong dán kín bên trong có chứa ma túy thu giữ của Nguyễn Văn G là vật nhà nước cấm tàng trữ.
. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn G phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51BLHS xử phạt Nguyễn Văn G 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 12/08/2022.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 điều 47 BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106 của BLTTHS: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư niêm phong dán kín bên trong có chứa ma túy thu giữ của Nguyễn Văn G. (Số vật chứng này hiện có tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố V theo Phiếu nhập kho số NK 2023/67).
Về án phí: Áp dụng Điều 136 BLTTHS 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc Nguyễn Văn G phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Nghệ An - VKSND TP.V - VKSND tỉnh Nghệ An - Chi cục THADS TP.V - Công an thành phố V - Sở Tư pháp tỉnh Nghệ An - Trại tạm giam Công an tỉnh Nghệ An - Bị cáo - Lưu HS | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa Hồ Nữ Hạnh Dung |