- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản"
- Tòa quyết gì? 39, Điều 147, Điều 150, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271,
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 466 Bộ luật Dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 370/2019/DS- ST Ngày: 19/8/2019 V/v: Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lại Thị Thu Thủy
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Đàm Thu Ánh
2. Bà Lâm Ngọc Minh
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Hiền – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân
dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 tham gia phiên tòa: Bà
Trương Võ Thùy Dung - Kiểm sát viên sơ cấp.
Ngày 19 tháng 8 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận 11, Thành phố
Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 357/2019/TLST-DS ngày
07 tháng 6 năm 2019 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa
vụ án ra xét xử số 53/2019/QĐXXST-DS ngày 15 tháng 7 năm 2019 và Quyết
định hoãn phiên tòa số 12/2019/QĐST- DS ngày 31 tháng 7 năm 2019 giữa các
đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần TV (Sau đây gọi tắt là
VPBank); Địa chỉ trụ sở: 89 đường L, phường H, Quận Đ, Thành phố Hà Nội; địa
chỉ chi nhánh: Tầng 2, số 96 đường T, Phường B, Quận M, Thành phố Hồ Chí
Minh.
Người đại diện của nguyên đơn: Ông Phạm Hữu K, sinh năm: 1994; địa chỉ:
Tầng 2, 96 đường T, Phường B, Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh; là người đại
diện theo ủy quyền theo Văn bản ủy quyền số 48738/2019/UQ-VPB ngày
26/6/2019 (có mặt);
Bị đơn: Ông Vũ Anh T , sinh năm: 1985; địa chỉ: 236/2 đường P, Phường T,
Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt);
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện nộp ngày 06/5/2019, bản tự khai, trong quá trình giải
quyết vụ án, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần TV (sau đây gọi tắt là VPBank) trình bày:
Ngày 25/03/2017, ông Vũ Anh T có ký Giấy đăng ký vay tiêu dùng cá nhân,
mở và sử dụng tài khoản thanh toán, thẻ ghi nợ và dịch vụ ngân hàng điện tử (sau đây gọi là HĐTD) số 20170410-0000597 và văn bản xác nhận ngày với VPBank với số tiền vay 105.000.000 đồng với lãi suất trong hạn thỏa thuận là 30%/năm, thời hạn vay 18 tháng, mục đích vay tiêu dùng. Ngày 10/04/2017, VPBank tiến hành giải ngân số cho ông Vũ Anh T số tiền 105.000.000 đồng qua số tài khoản 120678876 của ông Vũ Anh T. Kể từ khi vay vốn đến nay, ông T đã thanh toán cho Ngân hàng tổng số tiền là 26.765.000 đồng, trong đó tiền nợ gốc là 14.414.272 đồng và số tiền nợ lãi là 12.350.728 đồng. Phía VPBank đã nhiều lần liên hệ và tạo điều kiện cho ông T thanh toán nợ vay theo như thỏa thuận, nhưng ông T cố tình tránh né không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho VPBank. Lần thanh toán cuối cùng vào ngày 30/11/2017.
Tại phiên tòa hôm nay đại diện nguyên đơn yêu cầu:
Buộc ông Vũ Anh T phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán ngay một lần tổng
dư nợ đối với hợp đồng tín dụng tại VPBank là: 172.264.596 đồng (Một trăm bảy mươi hai triệu, hai trăm sáu mươi bốn nghìn, năm trăm chín mươi sáu đồng). Trong đó nợ gốc là 90.585.728 đồng, lãi tạm tính đến hết ngày 19/8/2019 là 81.678.868 đồng.
Ngoài ra, ông Vũ Anh T phải thanh toán cho VPBank tiền lãi phát sinh theo
quy định tại hợp đồng đã ký kể từ ngày 20/8/2019 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.
Ngoài các tài liệu, chứng cứ đã được kiểm tra tại phiên họp về việc giao
nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ ngày 15/7/2019, VPBank không cung cấp thêm chứng cứ nào khác.
* Đối với bị đơn ông Vũ Anh T: theo kết quả xác minh của Công an Phường
13, Quận 11: “Đương sự Vũ Anh T cư ngụ tại 236/2 đường P, Phường T, Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh”. Trong suốt quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng ông T vẫn vắng mặt không có lý do.
* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tiến hành xét xử đúng quy
định pháp luật.
Về nội dung: Hợp đồng ký kết giữa nguyên đơn và bị đơn là hợp đồng vay
tài sản do các bên tự nguyện thỏa thuận. Việc ông Vũ Anh T không thực hiện việc trả nợ đúng kỳ hạn là vi phạm nghĩa vụ hợp đồng. Do vậy, yêu cầu của nguyên đơn
là có cơ sở để chấp nhận. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên
đơn, buộc ông Vũ Anh T phải trả VPBank số tiền là 172.264.596 đồng (Một trăm
bảy mươi hai triệu, hai trăm sáu mươi bốn nghìn, năm trăm chín mươi sáu
đồng.Trong đó nợ gốc là 90.585.728 đồng, lãi tạm tính đến hết ngày 19/8/2019 là
81.678.868 đồng. Bị đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và căn cứ vào kết quả
tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
* Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền của Tòa án:
Ông Vũ Anh T có ký Giấy đăng ký vay tiêu dùng cá nhân, mở và sử dụng tài
khoản thanh toán, thẻ ghi nợ và dịch vụ ngân hàng điện tử (gọi là HĐTD) số
20170410-0000597 với VP Bank, do đó có cơ sở xác định giữa ông T và Ngân hàng
có giao kết giao dịch dân sự vay tài sản, đây là tranh chấp hợp đồng vay tài sản. Do
ông T có nơi cư trú tại địa chỉ: 236/2 đường P, Phường T, Quận M, Thành phố Hồ
Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 11,
Thành phố Hồ Chí Minh được quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều
35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
* Về người tham gia tố tụng: Bị đơn ông Vũ Anh T đã được Tòa án triệu tập
hợp lệ lần thứ hai nhưng ông T vẫn vắng mặt không có lý do. Vì vậy căn cứ điểm
b khoản 2 Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt
đương sự.
Về yêu cầu của các đương sự:
* Xét yêu cầu của nguyên đơn về nợ gốc:
Ngân hàng Thương mại cổ phần TV buộc ông Vũ Anh T trả cho Ngân hàng
số tiền nợ gốc là 90.585.728 đồng.
Căn cứ vào lời trình bày của nguyên đơn và các tài liệu chứng cứ có trong hồ
sơ vụ án thể hiện giữa VPBank và bị đơn ông Vũ Anh T có ký Giấy đăng ký vay
tiêu dùng cá nhân, mở và sử dụng tài khoản thanh toán, thẻ ghi nợ và dịch vụ ngân
hàng điện tử số 20170410-0000597 ngày 25/3/2017 và Văn bản xác nhận ngày
25/3/2017 và Bộ điều khoản và điều kiện về vay tiêu dùng cá nhân, mở và sử dụng
tài khoản thanh toán, thẻ ghi nợ và dịch vụ ngân hàng điện tử đính kèm. VPBank
đã cho ông T vay và giải ngân số tiền 105.000.000 đồng. Bị đơn nhận được tiền
vay và trong quá trình vay đã thanh toán tiền cho nguyên đơn một phần nợ gốc
14.414.272 đồng và còn nợ nguyên đơn số tiền nợ gốc là: 90.585.728 đồng. Do
đến hạn nhưng bị đơn không thanh toán nợ nên vi phạm nghĩa thanh toán theo
điểm a, khoản 1 Điều 6 của Bộ điều khoản và điều kiện về vay tiêu dùng cá nhân,
mở và sử dụng tài khoản thanh toán, thẻ ghi nợ và dịch vụ ngân hàng điện tử của VP Bank. Hội đồng xét xử căn cứ Khoản 1 Điều 466 Bộ Luật dân sự 2015 quy định: “Bên vay tài sản là tiền phải trả đủ tiền khi đến hạn” xét thấy việc nguyên đơn yêu cầu bị đơn thực hiện nghĩa vụ trả nợ đối với số tiền nợ gốc 90.585.728 đồng là có căn cứ nên chấp nhận.
* Về tiền lãi:
Theo quy định tại điểm d, khoản 1 Mục VIII của Giấy đăng ký vay tiêu dùng
cá nhân, mở và sử dụng tài khoản thanh toán, thẻ ghi nợ và dịch vụ ngân hàng điện tử ngày 25/3/2017 thể hiện các bên có thỏa thuận về lãi suất cho vay là 30% năm; Vào ngày 30/11/2017, ông T đã vi phạm hợp đồng và phụ lục kế hoạch trả nợ gốc và nợ lãi nên căn cứ khoản 2, 3 Điều 7 Bộ điều khoản và điều kiện về vay tiêu dùng cá nhân, mở và sử dụng tài khoản thanh toán, thẻ ghi nợ và dịch vụ ngân hàng điện tử thì VPBank sẽ chuyển toàn bộ dư nợ kể cả phần dư nợ chưa đến hạn sang nợ quá hạn và áp dụng lãi suất nợ quá hạn theo thỏa thuận tại hợp đồng này nên ngân hàng tính lãi suất vay quá hạn bằng 150 %/ lãi suất trong hạn từ thời điểm vi phạm đến ngày xét xử (theo bảng tính lãi ngày 19/8/2019). Căn cứ quy định tại Khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng quy định: “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật’’ và tại Điều 13 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng nhà nước cũng quy định: “Tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận về lãi suất cho vay theo cung cầu vốn thị trường, nhu cầu vay vốn và mức độ tín nhiệm của khách hàng, trừ trường hợp Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có quy định về lãi suất cho vay tối đa tại khoản 2 Điều này.”, Hội đồng xét xử xét thấy việc thỏa thuận lãi suất giữa nguyên đơn và bị đơn là hoàn toàn tự nguyện và không trái pháp luật. Vì vậy Ngân hàng Thương mại cổ phần TV yêu cầu bị đơn trả số tiền lãi tính đến ngày 19/8/2019 là 81.678.868 đồng theo bảng chi tiết lãi vay ngày 19/8/2019 là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên
đơn, buộc ông Vũ Anh T phải trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần TV số tiền là 172.264.596 đồng (trong đó nợ gốc là 90.585.728 đồng, lãi tạm tính đến hết ngày 19/8/2019 là 81.678.868 đồng.
Về án phí dân sự sơ thẩm:
Theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của
Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, yêu cầu của VPBank được chấp nhận nên bị đơn ông Vũ Anh T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 8.613.200 đồng.
Hoàn lại số tiền tạm ứng án phí là 4.009.380 đồng cho VPBank theo biên lai
thu số AA/2016/0010231 ngày 04/6/2019 của Chi cục thi hành án dân sự Quận 11,
Thành phố Hồ Chí Minh.
Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân
Quận 11 đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên
đơn là hoàn toàn có cơ sở chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều
39, Điều 147, Điều 150, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271,
Điều 273, 278 và Điều 280 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
Căn cứ vào Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ vào Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng 2010;
Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ
Quốc hội ban hành ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp,
quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ
phần TV .
Buộc ông Vũ Anh T có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ
phần TV tổng số tiền là 172.264.596 đồng (một trăm bảy mươi hai triệu, hai trăm
sáu mươi bốn đồng, năm trăm chín mươi sáu đồng), trong đó nợ gốc là 90.585.728
đồng, lãi tạm tính đến hết ngày 19/8/2019 là 81.678.868 đồng. Thời hạn thanh toán:
Thanh toán một lần khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày 20/8/2019 cho đến khi thi hành án xong, ông Vũ Anh T còn phải
chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất nợ quá hạn các
bên thỏa thuận tại Giấy đăng ký vay tiêu dùng cá nhân, mở và sử dụng tài khoản
thanh toán, thẻ ghi nợ và dịch vụ ngân hàng điện tử số 20170410-0000597 ngày
25/3/2017.
2. Án phí dân sự sơ thẩm: ông Vũ Anh T phải chịu án phí là 8.613.200 (tám
triệu sáu trăm mười ba nghìn hai trăm) đồng.
Hoàn lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần TV số tiền tạm ứng án phí đã
nộp là 4.009.380 đồng (Bốn triệu không trăm lẻ chín nghìn ba trăm tám mươi)
đồng theo Biên lai thu số AA/2016/0010231 ngày 04/6/2019 của Chi cục thi hành
án dân sự Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo
trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hoặc niêm yết theo quy định của pháp luật.
4. Các quyền và nghĩa vụ thi hành án dân sự của các đương sự được thực
hiện tại Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014.
| Nơi nhận: - TANDTP. HCM; - VKSND Quận 11; - Chi cục THADS Quận 11; - Các đương sự; - Lưu: VP, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lại Thị Thu Thủy |