vanban.org

Bản án 370/2018/HS-PT — Hình sự

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 06/09/2018 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 06/09/2018 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phan Thành L - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác (điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Căn cứ chính? Điều 104 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!
THÀNH!PHỐ!HỒ!CHÍ!MINH!
Bản án số: 370/2018/HS-PT
!
Ngày: 06-9-2018

NHÂN!DANH!

NƯỚC!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!

!

TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!THÀNH!PHỐ!HỒ!CHÍ!MINH!

Thành"phần"Hội"đồng"xét"xử"phúc"thẩm"gồm"có:!

Thẩm"phán"-"Chủ"tọa"phiên"tòa: Ông Nguyễn Văn Hà

Các"Thẩm"phán:" Bà Huỳnh Thị Việt Tiên

Bà Nguyễn Thị Thanh Bình

Thư"ký"phiên"tòa: Bà Nguyễn Thị Oanh

Đại"diện"Viện"kiểm"sát"nhân"dân"thành"phố"Hồ"Chí"Minh"tham"gia"

phiên"tòa:"Ông Nguyễn Thanh Thuận - Kiểm sát viên."

Ngày 06 tháng 9 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân Thành phố Hồ

Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số

266/2018/TLPT-HS ngày 29/6/2018 đối với bị cáo Phan Thành L do có

kháng cáo của bị cáo và đại diện hợp pháp của bị hại đối với Bản án hình sự

sơ thẩm số 70/2018/HS-ST ngày 28/5/2018 của Tòa án nhân dân quận Bình

Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị"cáo"có"kháng"cáo:"

Phan!Thành!L; giới tính: nam; sinh năm: 1982 tại tỉnh Nghệ An; nơi

đăng ký hộ khẩu thường trú: Xóm 5, xã H, huyện Y, tỉnh Nghệ An; nghề

nghiệp: không có; trình độ văn hóa: 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc:

Kinh; tôn giáo: không; con ông Phan Xuân H1 (chết) và bà Phan Thị H2;

hoàn cảnh gia đình: có vợ và 01 con sinh năm 2011; tiền án: Ngày

10/4/2013 bị Tòa án nhân dân Thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An xử phạt

15.000.000 đồng về tội “Đánh bạc”, tiền sự: không; nhân thân: không; bị

bắt, tạm giam từ ngày 13/7/2015 (có mặt).

Những"người"tham"gia"tố"tụng:"

Bị"hại"có"kháng"cáo:"

Bà Thái Minh H3. Sinh năm: 1992

Trú tại: 55A P, phường T, Thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai (vắng

mặt).

Đại diện theo ủy quyền: Ông Thái Q. Sinh năm: 1959

Trú tại: 55A P, phường T, Thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

Là cha ruột của bị hại (có mặt).

Người"bảo"vệ"quyền"và"lợi"ích"hợp"pháp"của"bà"Thái"Minh"H3:"

Ông Nguyễn Như Tuấn – Luật sư Văn phòng luật sư Trương Tiến

Dũng thuộc Đoàn luật sư tỉnh Đồng Nai (có mặt).

NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội

dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 09/01/2014, Phan Thành L, Trần Thanh

T, Trần Thanh L1 và đối tượng tên H (không rõ lai lịch) đến ăn uống tại quán ăn số 76 T, Phường M, quận B do bà Lê Hồng H4 và ông Trương Văn T1 làm chủ. Trong lúc ăn uống, T nhận ra đầu bếp trong quán là bạn học phổ thông nên có yêu cầu vợ chồng bà H4 cho gặp đầu bếp để nhận đồng hương người Nghệ An nhưng bà H4 nói đầu bếp bận không ra được. T nghĩ bà H4 cố tình không muốn cho T gặp vì lúc này chỉ còn 3 bàn khách nên giữa T và bà H4 xảy ra mâu thuẫn, cự cãi đồng thời bà H4 yêu cầu tính tiền không bán đồ ăn cho nhóm T nữa. Lúc này, L nhìn thấy ông T1 vào nhà điện thoại cho ai đó nên nghĩ rằng ông T1 gọi người đến đánh nhóm L do đó khi bà H4 ra nhận tiền thanh toán thì L cầm ly bia thủy tinh đánh vào trán khiến bà H4 té ngã. Ông T1 thấy vậy chạy ra thì bị T và L đánh té xuống cạnh thang dây chuyền đồ ăn. Trong lúc bà H4 té thì bà Thái Minh H3 ngồi bàn bên cạnh đỡ dậy, lúc này L cầm ly thủy tinh ném về phía bà H4 nhưng trúng khóe miệng chị H3 gây thương tích. Thấy ông T1 bị đánh bà H4 dùng 2 tay cầm 01 bàn inox đánh trả thì bị 01 thanh niên đánh bằng tay không khiến bà H4 té ngã trúng các mảnh thủy tỉnh vỡ dưới đất dẫn đến thương tích tại bàn tay phải, vảnh tay phải, cẳng chân trái, riêng vết thương tại bàn tay phải do bà tự gây ra trong lúc cầm bàn inox đánh nhóm L. Sau đó một nhóm thanh niên (không rõ lai lịch) đến đánh nhóm L phải bỏ chạy.

Trần Thanh T và Trần Thanh L1 khai trong lúc H trả tiền thì ông T1

chạy ra dùng ly bia đánh vào đầu T gây chảy máu nên T và L có dùng tay đánh lại để ngăn ông T1 không đánh T nữa sau đó ra lấy xe thì bị nhóm thanh niên dùng cây gỗ và xẻng đánh phải bỏ xe chạy.

Tại Bản kết luận giám định pháp y thương tật của Lê Hồng H4 kết luận

tổng tỷ lệ thương tật là 21%, cụ thể:

+ Vết thương trên mày trái do Phan Thành L gây ra, có tỉ lệ 10%.

+ Vết thương tại bàn tay phải do bà H4 cầm bàn inox chống trả, tự gây

ra, có tỉ lệ 5%.

+ Vết thương tại chân trái và vành tai phải do bà H4 ngã xuống đất

trúng mảnh thủy tinh, có tỉ lệ 6%.

Tại bản kết luận giám định pháp y thương tật của Thái Minh H3 kết

luận tổng tỷ lệ thương tật là 21%, cụ thể:

+ Vết thương vùng dưới khóe miệng trái kích ảnh hưởng thẩm mỹ, có

tỉ lệ 15%

+ Vết thương tại khóe miệng phải, mi dưới mắt trái, cổ, có tỉ lệ 6%

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 70/2018/HS-ST ngày 28/5/2018 của Tòa

án nhân dân quận Bình Thạnh đã quyết định:

Tuyên bố bị cáo Phan Thành L phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

- Áp dụng điểm a, c, i khoản 1, 2 Điều 104; điểm p khoản 1 Điều 46;

điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm

2009.

+ Xử phạt bị cáo: Phan Thành L 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời

hạn tù tính từ ngày 13/7/2015.

- Áp dụng Điều 42 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm

2009.

+ Buộc Phan Thành L bồi thường cho bà Thái Minh H3 số tiền

31.997.959 đồng.

Tách phần phần giải quyết bồi thường dân sự còn lại của các bị hại và

người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Trương Văn T1 bằng vụ kiện dân sự

khác nếu có yêu cầu.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, xử lý vật chứng và

quyền kháng cáo.

Ngày 30/5/2018, bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Ngày 08/6/2018, đại diện hợp pháp của bị hại Thái Minh H3 kháng

cáo về phần bồi thường dân sự.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa phúc thẩm nêu

quan điểm kết luận cấp sơ thẩm tuyên bố bị cáo phạm tội “Cố ý gây thương

tích” là đúng người, đúng tội, mức hình phạt đã tuyên là thỏa đáng. Tại

phiên tòa phúc thẩm bị cáo không có tình tiết mới nên không có căn cứ chấp

nhận kháng cáo của bị cáo. Đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Đối với kháng cáo của người bị hại, tại phiên tòa đại diện hợp pháp

của bị hại không xuất trình được căn cứ xác định chi phí thẩm mỹ

70.000.000 đồng nên không có căn cứ chấp nhận, riêng yêu cầu bồi thường

tổn thất tinh thần 30 tháng lương tối thiểu là phù hợp quy định pháp luật, đề

nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.

Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Thái Minh H3 nêu ý

kiến:

Các thương tích do bị cáo gây ra với bị hại có ảnh hưởng lớn tới thẩm

mỹ do đó các chi phí thẩm mỹ cũng như tổn thất tinh thần đối với bị hại là

chi phí hợp lý nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét buộc bị cáo bồi thường

tổn thất tinh thần là 30 tháng lương và chi phí điều trị thẩm mỹ tiếp tục

trong tương lai khoảng 70.000.000 đồng.

NHẬN!ĐỊNH!CỦA!HỘI!ĐỒNG!XÉT!XỬ:!

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ

sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo kháng cáo trong hạn luật định nên hợp lệ.

Xét lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ mà nội dung

bản án sơ thẩm đã nêu. Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên bố bị cáo phạm tội "Cố ý gây thương tích" là xét xử đúng người, đúng tội. Xem xét tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà tòa cấp sơ thẩm đã áp dụng để tuyên phạt bị cáo với mức án như trên là thỏa đáng.

Tuy nhiên, khi lượng hình Hội đồng xét xử cân nhắc bị cáo có nhiều

tình tiết giảm nhẹ như cấp sơ thẩm đã nêu, cụ thể: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa thành khẩn khai báo, thể hiện ăn năn hối cải; sau khi phạm tội đã bồi thường khắc phục một phần hậu quả cho người bị hại; bị cáo có cha là thương binh, hoàn cảnh gia đình có khó khăn nhất định khi là lao động chính hiện đang nuôi con nhỏ sinh năm 2011. Xét về hành vi phạm tội đối với bà Thái Minh H3, quá trình điều tra xác định bị cáo ném ly thủy tinh về hướng bà Lê Hồng H4 nhưng do bà Thái Minh H3 tới đỡ bà H4 nên trúng mặt bà H3 gây thương tích cho thấy bị cáo mặc dù cố ý về hành vi nhưng vô ý đối với hậu quả. Hội đồng xét xử xét thời gian bị cáo tam giam đã lâu cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục và tương xứng với tổng thương tật bị cáo gây ra cho các bị hại là 31% nên chấp nhận kháng cáo, giảm cho bị cáo một mức hình phạt.

Đối với kháng cáo của bị hại Thái Minh H3, Hội đồng xét xử xét đối

với yêu cầu bồi thường tổn thất là phù hợp quy định pháp luật nhưng chưa được cấp sơ thẩm xét xử xem xét nên chấp nhận buộc bị cáo bồi thường 30 tháng lương tối thiểu tương đương 40.500.000 đồng (30 x 1.350.000 đồng).

Đối với yêu cầu bồi thường chi phí thẩm mỹ trong tương lai khoảng

70.000.000 đồng, đại diện hợp pháp của bị hại không cung cấp được tài liệu chứng minh là chi phí thực tế nên Tòa cấp sơ thẩm tách yêu cầu bồi thường đối với số tiền trên bằng vụ kiện dân sự khác là có căn cứ, nhằm đảm bảo quyền lợi của bà H3 khi chứng minh được chi phí điều trị do di chứng từ vết thương mà bị cáo gây ra.

Vì"các"lẽ"trên;"

QUYẾT!ĐỊNH!

Căn cứ điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357

Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phan!Thành!L!và một phần kháng cáo

của đại diện hợp pháp của bị hại ông Thái!Q. Sửa bản án sơ thẩm.

Tuyên bố bị cáo Phan Thành L phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

- Áp dụng điểm a, c, i khoản 1, 2 Điều 104 Bộ luật Hình sự năm 1999,

sửa đổi bổ sung năm 2009; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

+ Xử phạt bị cáo: Phan Thành L 03 (ba) năm 01 (một) tháng 24 (hai

mươi bốn) ngày tù, thời hạn tù tính từ ngày 13/7/2015.

- Áp dụng khoản 5 Điều 328 Bộ luật Tố tụng hình sự.

+ Trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo nếu bị cáo không bị tạm

giam về một tội phạm khác.

- Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm

2017; Điều 590 Bộ luật Dân sự.

+ Buộc Phan Thành L bồi thường tổn thất tinh thần cho bà Thái Minh

H3 số tiền 40.500.000 đồng.

- Áp dụng Điều 30 Bộ luật Tố tụng hình sự.

+ Tách yêu cầu bồi thường đối với chi phí thẩm mỹ bằng vụ kiện dân

sự khác nếu bà Thái Minh H3 có tài liệu chứng minh.

Bị cáo nộp 2.025.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị

kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Nơi"nhận:"

"TM.!HỘI!ĐỒNG!XÉT!XỬ!PHÚC!THẨM!

- TAND Tối Cao;

(1)

THẨM!PHÁN!-!CHỦ!TỌA!PHIÊN!TÒA!

- TAND Cấp Cao tại Tp. HCM

(1)

- VKSND Tp.HCM;

(3)

- VKSND Q. Bình Thạnh;

(1)

- Chi cục THA Q. Bình Thạnh;

(1)

- TAND Q. Bình Thạnh;

(2)

- Công an Q. Bình Thạnh;

(1)

- Phòng PC 53 - CA Tp. HCM;

(1)

- Bị cáo;

(1)

- Sở Tư pháp;

(1)

Nguyễn!Văn!Hà

- UBND nơi bị cáo cư trú;

(1)

- Lưu, hình sự, hồ sơ. (18)

(4)

Cỡ chữ