vanban.org

Bản án 37

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Lê Th phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

[1] Xử phạt: [2] Xử lý vật chứng: Căn cứ Kho n 1 Điều 47 Bộ luật h nh sự; Điều 106 Bộ luật t tụng h nh sự, chấp nhận cơ quan điều tra tr lại 01 xe mô tô biển s 47F1 – 000.08 cho ông Lê Văn H là chủ sở hữu hợp pháp; tr lại cho bị cáo Lê Th 01 điện thoại di động hiệu Mastel, màu đỏ đen đã qua sử dụng,… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Lê Th - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Th phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Luật Phí và lệ phí; Điều 106 Bộ luật t tụng h nh sự; Điều 136 Bộ luật t tụng h nh sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN EA KAR
TỈNH Đ L

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

B n án s : 37/2021/HSST.
Ngày: 27/8/2021.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA AR, TỈNH Đ L

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Nhã Phương.

- Các hội thẩm nhân dân: Ông Lê Khắc Dũng và bà Nguyễn Thị Tuyết.

Thư ký phiên tòa: Ông Y Kăn Niê – Thư ký Tòa án.

Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Ea Kar tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Minh Nguyệt - Chức vụ: Kiểm sát viên.

Ngày 27/8/2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk. Tòa án nhân dân huyện Ea Kar mở phiên tòa x t xử sơ th m c ng khai vụ án h nh sự thụ lý s : 40/2021 H T, ngày 12 tháng 8 năm 2021; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ th m s : 41/2021/HSST - QĐ, ngày 13 tháng 8 năm 2021, đ i với bị cáo:

* Họ và tên: Lê Th (Tên gọi khác: Không), sinh ngày 29/11/2002.

Tại: Tỉnh G;

Nơi cư trú: Th n 8, thị trấn K, huyện K, tỉnh Đ; nghề nghiệp: Không; tr nh độ học vấn: 7/12; con ông: Lê K, sinh năm 1981 và bà: Trần Thị H, sinh năm 1982; gia đ nh bị cáo có 03 anh em, bị cáo là con thứ nhất. Bị cáo chưa có vợ con;

Tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân: Chưa có án tích và chưa bị xử phạt hành chính; bị cáo Lê Th bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/6/2021. Hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Ea Kar. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Lê Văn H, sinh năm: 1968. Địa chỉ: Thôn A, xã H, huyện K, tỉnh Đ. (Có mặt)

* Ngƣời làm chứng: Ông Nguyễn Văn L, sinh năm: 1953. Địa chỉ: Tổ dân ph A, thị trấn K, huyện K, tỉnh Đ. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào lúc 13 giờ 20 phút ngày 09/6/2021, tại tổ dân ph A, thị trấn K, huyện K, Cơ quan C nh sát điều tra Công an huyện Ea Kar phát hiện bắt qu tang Lê Th có hành vi tàng trữ trái phép 01 gói nhựa trắng, bên trong đựng chất rắn dạng tinh thể trong su t, trong bao thu c lá nhãn hiệu COTAB, để trong túi áo khoác màu đen phía dưới bên ph i Th đang mặc trên người. Th khai nhận b n thân là người nghiện ma tuý, đây là s ma túy đá do một người bạn (không rõ họ tên, địa chỉ) mới cho Th nhằm mục đích để sử dụng. Cơ quan điều tra đã tạm giữ Th và thu giữ các tang vật có liên quan để phục vụ điều tra; sau khi thu giữ, tang vật được niêm phong theo đúng quy định của pháp luật.

Vật chứng thu giữ:

- 01 gói nhựa màu trắng, bên trong đựng chất rắn dạng tinh thể trong su t, đã được niêm phong trong phong b theo quy định;

- 01 điện thoại di động hiệu Mastel, màu đỏ đen đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong;

- 01 áo khoác màu đen, có hai túi phía dưới bên trái và bên ph i;

- 01 vỏ bao thu c lá hiệu COTAB;

- 01 xe mô tô biển s 47F1 – 000.08 đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong;

Tại B n kết luận giám định s 656 ngày 18/6/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Lắk kết luận: Chất rắn dạng tinh thể trong su t đựng trong 01 gói nhựa màu trắng được niêm phong gửi giám định là ma túy, có kh i lượng 0,2474 gam, loại Methamphetamine. Hoàn lại mẫu vật sau giám định có kh i lượng 0,2185 gam và toàn bộ bao gói đựng mẫu vật gửi giám định ban đầu.

Tại b n cáo trạng s : 44/CT-VKS, ngày 11/8/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea Kar đã truy t : Lê Th, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c Kho n 1 Điều 249 Bộ luật h nh sự.

Trong quá tr nh điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của m nh như nội dung cáo trạng đã truy t .

Tại phiên toà h m nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea Kar giữ quyền công t tại phiên tòa, sau khi đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo đã giữ nguyên quan điểm truy t bị cáo: Lê Th, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị Hội đồng xét xử:

+ Áp dụng điểm c Kho n 1 Điều 249; điểm s kho n 1 Ðiều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Lê Th từ: 01(một) năm đến 01(một) năm 06(sáu) tháng tù.

Các biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật t tụng hình sự năm 2015.

- Về xử lý vật chứng: Chấp nhận cơ quan điều tra tr lại 01 xe mô tô biển s 47F1 – 000.08 cho ông Lê Văn H là chủ sở hữu hợp pháp.

Đ i với 01 điện thoại di động hiệu Mastel, màu đỏ đen đã qua sử dụng, đây là tài s n hợp pháp của bị cáo Th và không sử dụng vào việc phạm tội nên cần tr lại cho bị cáo.

Đ i với 0,2185 gam ma túy, loại Methamphetamine; 01 áo khoác màu đen, có hai túi phía dưới bên trái và bên ph i; 01 vỏ bao thu c lá hiệu COTAB, là vật chứng liên quan đến việc phạm tội và không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

- Về trách nhiệm dân sự: Không ai có yêu cầu, nên kh ng đặt ra để gi i quyết.

Bị cáo Lê Th không tranh luận với quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea Kar.

Lời nói sau cùng: Bị cáo tỏ thái độ ăn năn và đề nghị Hội đồng x t xử xem x t gi m nhẹ h nh phạt.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được th m tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết qu tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem x t đầy đủ, toàn diện chứng cứ cũng như ý kiến của Kiểm sát viên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Trong quá tr nh điều tra, truy t Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng th m quyền, tr nh tự, thủ tục quy định của Bộ luật t tụng h nh sự. Quá tr nh điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia t tụng khác kh ng có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành t tụng, người tiến hành t tụng. Do đó, các hành vi, quyết định t tụng của Cơ quan tiến hành t tụng, người tiến hành t tụng đã thực hiện đúng pháp luật.

Về tội danh và điều luật áp dụng: Tại phiên tòa bị cáo Lê Th đã khai nhận hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có lưu trong hồ sơ vụ án, là có đủ cơ sở kết luận:

Do nghiện ma túy nên vào ngày 09/6/2021, bị cáo đã có hành vi tàng trữ 0,2474 gam ma túy, loại Methamphetamine nhằm để sử dụng.

Tại b n kết luận giám định s 65, ngày 18/6/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Lắk kết luận: Chất rắn dạng tinh thể trong su t đựng trong 01 gói nhựa màu trắng được niêm phong gửi giám định là ma túy, có kh i lượng 0,2474 gam, loại Methamphetamine. Do vậy, HĐXX có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c kho n 1 Điều 249 Bộ luật h nh sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện EaKar, tỉnh Đắk Lắk truy t là có cơ sở, đúng người, đúng pháp luật, tội danh và hình phạt được quy định tại điểm c kho n 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại hoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự quy định:

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

……………

c) Hêrôin, côcain, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

Như vậy lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác mà Cơ quan điều tra đã thu thập có trong hồ sơ vụ án.

X t tính chất, mức độ, hậu qu do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra không những đã xâm phạm đến sự qu n lý độc quyền của Nhà nước đ i với các loại dược, chất ma túy mà còn gây nh hưởng xấu đến t nh h nh trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo nhận thức được rằng các loại dược, chất ma túy đều thuộc sự qu n lý độc quyền của Nhà nước, th ng qua các cơ quan chức năng có th m quyền và ph i tuân theo những tr nh tự, thủ tục nghiêm nghặt; mọi hành vi tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái ph p hoặc chiếm đoạt chất ma túy đều bị trừng trị nghiêm khắc. Người nghiện ma túy là tự tàn phá sức khỏe, làm tổn hại gi ng nòi và còn là nguyên nhân làm lây truyền các căn bệnh xã hội, trong đó có đại dịch HIV AID đang là vấn nạn của toàn nhân loại. Nhưng do ý thức coi thường pháp luật nên vào ngày 09/6/2021, bị cáo đã có hành vi tàng trữ 0,2474 gam ma túy, loại Methamphetamine nhằm để sử dụng. Do đó, Hội đồng x t xử cần áp dụng mức h nh phạt tương xứng với những hành vi mà bị cáo gây ra, cần ph i cách ly bị cáo ra khỏi đời s ng xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục đ i với bị cáo và cũng phòng ngừa chung cho xã hội.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá tr nh điều tra và tại phiên toà bị cáo đã thành kh n khai báo, ăn năn h i c i về hành vi phạm tội của mình là tình tiết gi m nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s kho n 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Do đó, x t mức h nh phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị đ i với bị cáo là phù hợp với tính chất mức độ hành vi do bị cáo gây ra nên Hội đồng x t xử cần chấp nhận.

Ngoài ra, quá tr nh điều tra cũng như tại phiên tòa h m nay kh ng xác định được nhân thân lai lịch của người đã cho bị cáo Th ma túy nên không có căn cứ để xử lý theo quy định.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Kho n 1 Điều 47 Bộ luật h nh sự; Điều 106 Bộ luật t tụng h nh sự, chấp nhận cơ quan điều tra tr lại 01 xe mô tô biển s 47F1 – 000.08 cho ông Lê Văn H là chủ sở hữu hợp pháp; tr lại cho bị cáo Lê Th 01 điện thoại di động hiệu Mastel, màu đỏ đen đã qua sử dụng, đây là tài s n hợp pháp của bị cáo Th và không sử dụng vào việc phạm tội .

Tịch thu tiêu hủy 0,2185 gam ma túy, loại Methamphetamine; 01 áo khoác màu đen, có hai túi phía dưới bên trái và bên ph i; 01 vỏ bao thu c lá hiệu COTAB, là vật chứng liên quan đến việc phạm tội và không có giá trị sử dụng.

Về trách nhiệm dân sự: Không có ai yêu cầu, nên kh ng đặt ra để gi i quyết.

Về án phí: Bị cáo ph i chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí h nh sự sơ th m.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Lê Th phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

[1] Xử phạt:

+ Áp dụng điểm c Kho n 1 Điều 249; điểm s kho n 1 Ðiều 51 Bộ luật h nh sự. Xử phạt: Bị cáo Lê Th 01(một) năm 03(ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt được tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam, ngày 09/6/2021.

[2] Xử lý vật chứng: Căn cứ Kho n 1 Điều 47 Bộ luật h nh sự; Điều 106 Bộ luật t tụng h nh sự, chấp nhận cơ quan điều tra tr lại 01 xe mô tô biển s 47F1 – 000.08 cho ông Lê Văn H là chủ sở hữu hợp pháp; tr lại cho bị cáo Lê Th 01 điện thoại di động hiệu Mastel, màu đỏ đen đã qua sử dụng, đây là tài s n hợp pháp của bị cáo Thành và không sử dụng vào việc phạm tội .

Tịch thu tiêu hủy 0,2185 gam ma túy, loại Methamphetamine; 01 áo khoác màu đen, có hai túi phía dưới bên trái và bên ph i; 01 vỏ bao thu c lá hiệu COTAB, là vật chứng liên quan đến việc phạm tội và không có giá trị sử dụng.

Toàn bộ s vật chứng trên hiện nay do Chi cục Thi hành án dân sự huyện EaKar, tỉnh Đắk Lắk đang tạm giữ theo biên b n về việc giao nhận vật chứng, tài s n ngày 12 08 2021.

[3] Trách nhiệm dân sự: Không có ai yêu cầu, nên kh ng đặt ra để gi i quyết.

[4] Án phí: Áp dụng kho n 2 Điều 136 Bộ luật t tụng h nh sự năm 2015, Luật phí và lệ phí; nghị quyết s 326 2016 UBTVQH14, ngày 30 12 2016 của Ủy ban thường vụ Qu c Hội về mức thu, miễn, gi m, thu, nộp, qu n lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Lê Th ph i nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ th m.

[5] Quyền kháng cáo: Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo b n án sơ th m trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ