vanban.org

Bản án 37/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Huỳnh Kim T:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Huỳnh Kim T được ly hôn ông Nguyễn Văn B. Về con chung: Không có Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Tòa quyết gì? 1/. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Huỳnh Kim T:
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 37/HNGĐ-ST
Ngày: 22/9/2023
V/v “Ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 3 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Hoa

Các Hội thẩm nhân dân: 1/- Ông Nguyễn Kiên Hiển

2/- Bà Đặng Thị Ngọc Hằng

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Thuận – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Lê Mộng Điệp - Kiểm sát viên.

Trong ngày 22 tháng 9 năm 2023, tại phòng xử án Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 75/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 02 năm 2023 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 32/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 8 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 54/2023/QĐST-HNGĐ ngày 30 tháng 8 năm 2023, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Huỳnh Kim T, sinh năm 1973

Địa chỉ: Số 451 đường A, Phường 5, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có đơn xin vắng mặt).

Bị đơn: Ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1968

Địa chỉ: Số 252/12 đường D, Phường 9 , Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện đề ngày 16/02/2023, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Huỳnh Kim T trình bày: Bà và ông Nguyễn Văn B nguyện chung sống và đăng ký kết hôn năm 2007 tại Ủy ban nhân dân Phường 9, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận kết hôn số 180, quyển số 01/2007 cấp ngày 19/11/2007. Quá trình chung sống bà và ông B sống tại địa chỉ 252/12 đường D, Phường 9 , Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh

Cuộc sống chung vợ chồng thời gian đầu hạnh phúc, đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống, dẫn đến vợ chồng thường xuyên gây gổ, cãi vã nhau, vào năm 2022 bà đã 02 lần nộp hồ sơ ly hôn tại Tòa án nhân dân Quận 3 nhưng sau đó muốn vợ chồng hàn gắn nên bà đã rút đơn. Tuy nhiên khi quay lại chung sống với nhau mẫu thuẫn vợ chồng vẫn không thể dung hòa được. Từ năm 2022 cho đến nay bà và ông B đã sống ly thân. Trong quá trình sống ly thân hai bên không thực hiện biện pháp nào để hàn gắn gia đình. Nay bà nhận thấy tình cảm đối với ông B không còn, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu ly hôn với ông B.

Về con chung: Không có

Về tài sản chung: Bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa hôm nay:

- Nguyên đơn bà Huỳnh Kim T: Có đơn xin vắng mặt.

- Bị đơn ông Nguyễn Văn B: Vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 3 phát biểu ý kiến: Quá trình giải quyết, thu thập chứng cứ và tại phiên tòa Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Về nội dung giải quyết vụ án, nhận thấy các yêu cầu của nguyên đơn bà Huỳnh Kim T là có cơ sở. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn bà Huỳnh Kim T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về tố tụng:

[1.1]. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền: Nguyên đơn bà Huỳnh Kim T yêu cầu ly hôn với bị đơn ông Nguyễn Văn B có nơi cư trú tại Quận 3. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, đây là vụ án “Ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh.

. Về thủ tục xét xử vắng mặt:

- Tại Đơn đề nghị xét xử vắng mặt đề ngày 10/8/2023, nguyên đơn bà Huỳnh Kim T yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn mà không có sự tham gia của bà. Qua đó, bà T xác định: Bà vẫn giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn với ông Nguyễn Văn B; Về con chung không có; Về tài sản: Không yêu cầu Tòa án giải quyết. Căn cứ vào khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án giải quyết vắng mặt bà T.

- Bị đơn ông Nguyễn Văn B đã được tống đạt, niêm yết hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, Giấy triệu tập để trình bày ý kiến, các Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa và các Giấy triệu tập để tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án nhân dân Quận 3 tiến hành xét xử vắng mặt ông B.

. Về yêu cầu của nguyên đơn bà Huỳnh Kim T:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Huỳnh Kim T và ông Nguyễn Văn B tự nguyện chung sống và có làm thủ tục đăng ký kết hôn năm 2007 tại Ủy ban nhân dân Phường 9, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh, theo Giấy chứng nhận kết hôn số 180, quyển số 01/2007, cấp ngày 19/11/2007. Như vậy, quan hệ hôn nhân của bà Thoa và ông B là hôn nhân hợp pháp, được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ.

. Xét yêu cầu ly hôn, Hội đồng xét xử xét thấy:

Quá trình chung sống của bà T và ông B không hạnh phúc, mâu thuẫn thường xuyên xảy ra, Nguyên nhân là do bất đồng về quan điểm sống, dẫn đến vợ chồng thường xuyên gây gổ, cãi vã nhau. Từ năm 2022 cho đến nay bà T và ông B đã sống ly thân với nhau, trong quá trình sống ly thân hai bên không thực hiện biện pháp nào để hàn gắn gia đình. Vào năm 2022 bà T đã 02 lần nộp đơn ly hôn tại Tòa án nhân dân Quận 3, nhưng sau đó muốn vợ chồng hàn gắn nên tôi đã rút đơn. Tuy nhiên khi quay lại chung sống với nhau mẫu thuẫn vợ chồng vẫn không thể dung hòa được. Nay bà T xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng nên yêu cầu được ly hôn ông B.

Xét yêu cầu ly hôn của bà T, Hội đồng xét xử xét thấy cuộc sống vợ chồng ngày càng rạn nứt kéo dài từ năm 2020 dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng. Cả hai đã ly thân từ năm 2022 không còn quan tâm gì đến nhau. Mặt khác, ông B đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn cố tình vắng mặt không đến Tòa để trình bày ý kiến nêu nguyện vọng của mình chứng tỏ ông B không có thiện chí để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Từ các cơ sở nêu trên, xét thấy quan hệ hôn nhân giữa bà T và ông B không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, khả năng đoàn tụ không có. Do đó, bà T yêu cầu được ly hôn với ông B là có cơ sở để chấp nhận.

Về con chung: Không có.

Về tài sản chung: Bà Huỳnh Kim T không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Bà Huỳnh Kim T phải nộp án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch đối với yêu cầu ly hôn.

Vì các lẽ nêu trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Áp dụng Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 266, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 2 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

- Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và Danh mục án phí, lệ phí Tòa án (ban hành kèm theo);

- Áp dụng Luật Thi hành án Dân sự.

Tuyên xử:

1/. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Huỳnh Kim T:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Huỳnh Kim T được ly hôn ông Nguyễn Văn B.

- Về con chung: Không có

- Về tài sản: Bà Huỳnh Kim T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2/. Về án phí dân sự sơ thẩm: Án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng, bà Huỳnh Kim T phải chịu và được tính cấn trừ vào tạm ứng án phí đã nộp 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng theo Biên lai thu số 0008095 ngày 21/02/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Huỳnh Kim T đã nộp đủ án phí.

3/. Về quyền kháng cáo: Bà Huỳnh Kim T và ông Nguyễn Văn B được quyền kháng cáo trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ