vanban.org

Bản án 37/DSPT — Tranh chấp hợp đồng bảo hiểm

TAND TP. Hà Nội Tuyên án 21/01/2021 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 21/01/2021 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội.

Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 04/2020/DS-ST ngày 02/6/2020 của Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy và quyết định cụ thể như sau: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện tranh chấp hợp đồng bảo hiểm của ông Nguyễn Trọng Hà đối với Tổng công ty bảo hiểm PVI đối với số tiền 520.273.071 đồng. Trong đó 480.955… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng bảo hiểm — án dân sự — "NTH-PVI"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 37/2021/DSPT
Ngày Ngày: 21/01/2021
V/v: “Tranh chấp hợp đồng bảo
hiểm”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đinh Như Lâm

Các Thẩm phán:

Bà Nguyễn Thị Thu Hằng

Bà Nguyễn Thu Hồng

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thu Hiền – Thẩm tra viên chính Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Mai Thanh - Kiểm sát viên.

Ngày 21/01/2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 395/2020/TLPT-DS về việc "Tranh chấp hợp đồng bảo hiểm"

Do bản án sơ thẩm số 04/2020/DS-ST ngày 02/6/2020 của Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 446/2020/QĐ-PT ngày 26/10/2020 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Trọng Hà; sinh năm 1972; trú tại: Số 108 Phúc Tân, quận Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội; có mặt tại phiên tòa.

Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn

- Ông Nguyễn Khắc Xuân; sinh năm: 1979.

- Ông Đỗ Hồng Sơn; sinh năm:1984.

- Ông Phí Văn Long; sinh năm; 1995.

Địa chỉ liên hệ số 5A, ngõ 579 đường Lạc Long Quân, phường Xuân La, quận Tây Hồ, Thành phố Hà Nội. Ông Xuân, ông Sơn, ông Long có mặt tại phiên tòa.

2. Bị đơn: Tổng công ty bảo hiểm PVI

Trụ sở: Tầng 24 PVI Tower số 01 Phạm Văn Bạch, phường Yên Hoà, quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội

Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Anh Đức- Tổng giám đốc

Người đại diện theo uỷ quyền:

- Ông Phan Sỹ Lương; chức vụ - Phó trưởng văn phòng – Văn phòng đại diện CSKH bảo hiểm PVI phía Bắc – Tổng công ty Bảo hiểm PVI.

- Bà Trịnh Việt Hà; chức vụ- Chuyên viên pháp chế - Văn phòng đại diện chăm sóc khách hàng bảo hiểm PVI miền Bắc – Tổng công ty Bảo hiểm PVI.

- Ông Nguyễn Đức Anh; chức vụ- Chuyên viên pháp chế - Tổng công ty Bảo hiểm PVI.

Ông Lương, bà Hà, ông Anh có mặt tại phiên tòa.

3. Người làm chứng: Bà Nguyễn Thị Phượng; sinh năm: 1983.

Địa chỉ: Số 10, ngõ 28 phố Trương Định, quận Hai Bà Trưng, Thành phố Hà Nội; xin vắng mặt tại phiên tòa.

4. Người kháng cáo: Ông Nguyễn Trọng Hà là nguyên đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản án sơ thẩm, vụ án có nội dung như sau:

Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Ngày 18/12/2017, ông Nguyễn Trọng Hà và Công ty Bảo hiểm PVI Hà Nội thuộc Tổng Công ty Bảo hiểm PVI (Bảo hiểm PVI) ký Hợp đồng bảo hiểm xe cơ giới số C15996/AUTO/01/22/2017 (Hợp đồng bảo hiểm số C15996) với đối với xe ô tô biển kiểm soát 29B-190.04, nhãn hiệu xe Ford Transit (16 chỗ), số tiền bảo hiểm: 800.000.000 đồng (Tám trăm triệu đồng). Hợp đồng bảo hiểm số C15996 có hiệu lực từ 15h00 ngày 18/12/2017 đến 15h00 ngày 18/12/2018, phí bảo hiểm (bao gồm phụ phí và thuế GTGT) là 12.400.000 đồng (Mười hai triệu bốn trăm nghìn đồng). Khoảng giữa tháng 4/2018, ông Hà có tháo ghế của xe ô tô 29B-190.04 để bọc ghế da nhằm nâng cấp nội thất xe, nâng cao chất lượng phục vụ hành khách.

Ngày 18/04/2018, anh Cao Xuân Mạnh mượn xe của ông Hà đi Thái Nguyên. Trên đường đi xe gặp tai nạn đâm vào đuôi xe ô tô tải BKS 99C-038.05 đậu ven đường tại Km số 51+700 cao tốc Hà Nội – Thái Nguyên, do anh Trần Vĩnh Long điều khiển. Hậu quả cả hai xe ô tô đều bị hư hại và anh Mạnh bị trấn thương đầu gối. Thiệt hại về xe ô tô 29B-190.04 ông Hà phải sửa chữa hết 480.955.000 đồng (Bốn trăm tám mươi triệu, chín trăm năm mươi lăm nghìn đồng) chưa bao gồm VAT.

Tại thời điểm xảy ra tai nạn, ông Hà thông báo cho Bảo hiểm PVI và báo cơ quan cảnh sát giao thông tỉnh Thái Nguyên. Bảo hiểm PVI từ chối bồi thường tổn thất xe ô tô 29B-190.04. Ngày 06/9/2018, Bảo hiểm PVI có công văn số 814/CSB-XCG (công văn 814) từ chối trách nhiệm bồi thường thiệt hại về xe ô tô 29B-190.04 với lý do xe ô tô 29B-190.04 đã tháo ghế tại thời điểm tai nạn, việc tháo ghế dẫn đến mất hiệu lực đăng kiểm và theo điểm loại trừ trong Quy tắc bảo hiểm PVI, loại trừ trách nhiệm trong trường hợp xe không có đăng kiểm. Ngày 17/9/2018, ông Hà làm văn bản khiếu nại gửi Bảo hiểm PVI (khiếu nại công văn số 814), với nội dung khẳng định việc Bảo hiểm PVI từ chối bồi thường thiệt hại vật chất xe ô tô 29B-190.04 không có cơ sở.

Ngày 28/9/2018, Bảo hiểm PVI gửi ông Hà công văn số 910/CSB-XCG (công văn 910) phúc đáp văn bản khiếu nại ngày 17/9/2018 của ông Hà, với quan điểm Bảo hiểm PVI cung cấp Quy tắc bảo hiểm khi ông Hà yêu cầu.

Ngày 08/10/2018, ông Hà gửi văn bản khiếu nại (lần 2) tới Bảo hiểm PVI về việc không đồng ý với quan điểm PVI tại Công văn 910. Căn cứ khoản 1 Điều 19 Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2000, sửa đổi, bổ sung một số điều luật kinh doanh bảo hiểm năm 2010 quy định về trách nhiệm cung cấp thông tin: “Khi giao kết hợp đồng bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm có trách nhiệm cung cấp đầy đủ thông tin liên quan đến hợp đồng bảo hiểm, giải thích các điều kiện, điều khoản bảo hiểm cho bên mua bảo hiểm;…” Và căn cứ mục 8 Điều 1 trong Quy tắc bảo hiểm PVI “Bộ Hợp đồng bảo hiểm bao gồm: Giấy yêu cầu bảo hiểm, Giấy chứng nhận bảo hiểm, Quy tắc bảo hiểm, các Sửa đổi bổ sung (nếu có), bản HĐBH (nếu có), và các thoả thuận khác bằng văn bản (nếu có). Ông Nguyễn Trọng Hà cho rằng Bảo hiểm PVI đã không đính kèm quy tắc bảo hiểm vào hợp đồng và không giải thích điều kiện, điều khoản bảo hiểm cho ông Hà là vi phạm chính Quy tắc bảo hiểm của PVI và Luật kinh doanh bảo hiểm.

Ngày 29/10/2018, Bảo hiểm PVI gửi ông Hà công văn 1032/CSB-XCG phúc đáp văn bản khiếu nại (lần 2) ngày 08/10/2018 của ông Hà, với nội dung bảo lưu quan điểm từ chối bồi thường tổn thất xe ô tô 29B-190.04.

Nguyên đơn cho rằng: điều khoản loại trừ bảo hiểm không được quy định trong hợp đồng. Nguyên đơn không được cung cấp và giải thích về quy tắc bảo hiểm. Việc tháo ghế của nguyên đơn là hành vi vi phạm pháp luật do vô ý. Công ty bảo hiểm PVI áp dụng điều khoản quy định không rõ ràng gây bất lợi cho nguyên đơn. Nguyên đơn không đồng ý với nội dung phạm vi trách nhiệm bảo hiểm trong biên bản Giám định của công ty Bảo Tín đưa ra. Nguyên đơn thừa nhận khi xảy ra sự kiện va chạm giữa xe ô tô 29B – 190.04 và xe ô tô tải BKS 99C-038.05 thì xe ô tô 29B-190.04 đã tháo băng ghế phía sau của xe như bản chụp của Công ty TNHH giám định, định giá và dịch vụ kỹ thuật giám định Bảo Tín cung cấp, không đề nghị giám định lại. Ông Nguyễn Trọng Hà khởi kiện:

1) Yêu cầu Tổng Công ty Bảo hiểm PVI bồi thường bảo hiểm xe ô tô BKS 29B-190.04 số tiền là 480.955.000 đồng (Bốn trăm tám mươi triệu, chín trăm năm mươi lăm nghìnđồng), chưa bao gồm VAT.

2) Yêu cầu Tổng Công ty Bảo hiểm PVI thanh toán tiền lãi chậm trả với căn cứ tính lãi dựa trên:

- Số tiền tính lãi là 480.955.000 VNĐ (Bốn trăm tám mươi triệu, chín trăm năm mươi lăm nghìnđồng).

- Thời gian chịu lãi: Từ ngày 06/9/2018 - Bảo hiểm PVI ra công văn 814 từ chối bồi thường đến ngày 30/7/2019 là 327 (ba trăm hai bảy) ngày. Số tiền lãi Bảo hiểm PVI phải chịu 480.955.000 x 327 x 9% : 365 = 39.318.071 đồng (Ba mươi chín triệu, ba trăm mười tám nghìn, không trăm bảy mươi mốt đồng).

Tổng cộng: 520.273.071 đồng (Năm trăm hai mươi triệu, hai trăm bảy mươi ba nghìn, không trăm bảy mươi mốt đồng)./.

Quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo ủy quyền bị đơn trình bày:

Ngày 18/12/2017 công ty bảo hiểm PVI Hà Nội có ký Hợp đồng bảo hiểm xe cơ giới số C15996/AUTO/01/22/2017 (Hợp đồng bảo hiểm số C15996) với ông Nguyễn Trọng Hà có hiệu lực từ 15h00 ngày 18/12/2017 đến 15h00 ngày 18/12/2018, đối với xe ô tô Biển kiểm soát 29B-190.04 nhãn hiệu Ford Transit (16 chỗ) số tiền bảo hiểm: 800.000.000 đồng (tám trăm triệu đồng), phí bảo hiểm là 12.400.000 đồng phí bảo hiểm (bao gồm phụ phí và thuế GTGT) là 12.400.000 đồng.

Ngày 18/4/2018, tại Km số 51+700 cao tốc Hà Nội – Thái Nguyên, xe ô tô 29B - 190.04 do anh Cao Xuân Mạnh điều khiển đâm vào đuôi xe ô tô tải BKS 99C-038.05 đậu ven đường tại Km số 51+700 cao tốc Hà Nội – Thái Nguyên, do anh Trần Vĩnh Long điều khiển.

Bảo hiểm PVI đã trưng cầu giám định độc lập là Baotinvatesco để đánh giá phạm vi bảo hiểm và mức độ thiệt hại thuộc trách nhiệm của bảo hiểm. Baotinvatesco là công ty có chức năng giám định về trách nhiệm bảo hiểm để xác định mức độ nguyên nhân và phạm vi bảo hiểm.

Theo kết luận của giám định Baotinvatesco và ý kiến đánh giá của Viện Khoa học hình sự, xe ô tô không chỉ bị tháo ghế để đem đi bọc da mà đã bị thay đổi kết cấu, cụ thể là tháo ghế, gia cố cửa xe, lắp gỗ sàn xe nhằm chuyển đổi mục đích sử dụng xe từ kinh doanh chở khách sang chở hàng. Việc thay đổi thông số kỹ thuật xe nói trên của Ông Nguyễn Trọng Hà cố ý, ông Hà không được phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt và cấp giấy chứng nhận thẩm định thiết kế, cũng không thông báo cho Bảo hiểm PVI. Theo quy định của điểm c khoản 2 Điều 18 Luật Kinh doanh bảo hiểm: “2. Bên mua bảo hiểm có nghĩa vụ:…c) Thông báo những trường hợp có thể làm tăng rủi ro hoặc làm phát sinh thêm trách nhiệm của doanh nghiệp bảo hiểm trong quá trình thực hiện hợp đồng bảo hiểm theo yêu cầu của doanh nghiệp bảo hiểm”. Khoản 6.1 Điều 6 Hợp đồng bảo hiểm quy định: “6.1 Trách nhiệm của Bên A:…- Thông báo ngay khi thay đổi mục đích sử dụng, thay đổi kết cấu xe được bảo hiểm để Bên B điều chỉnh phí bảo hiểm phù hợp với mức phí tương ứng theo quy định trong Biểu phí bảo hiểm của Bên B tại thời điểm cấp Giấy chứng nhận bảo hiểm…”. Do tổn thất của việc va chạm giữa hai ô tô trên thuộc trường hợp những trường hợp loại trừ bảo hiểm của Quy tắc bảo hiểm xe cơ giới ban hành theo quyết định số 1306/QĐ-PVIBK ngày 29/12/2016 của Tổng giám đốc Tổng công ty bảo hiểm PVI. Tại thời điểm va chạm xe ô tô BKS 29B-190.04 đã thay đổi thiết kế khoang chở khách đã không còn ghế ngồi, không có lớp vỏ thành xe, trần xe và các cửa xe, hở phần khung kim loại, sàn khoang chở khách của xe được lắp thêm các tấm gỗ dày, được lắp chắc chắn với sàn xe bằng đinh vít, có nhiều bụi bẩn, không có các lỗ để lắp bu lông liên kết với ghế ngồi. Tại thời điểm giám định xe ô tô BKS 29B-190.04 có sự sai lệch về kết cấu khoang chở khách so với thông tin trong Giấy chứng nhận kiểm định số KC4212404.

Xe ô tô BKS 29B-190.04 là xe ô tô khách với số người cho phép chở là 16 người không có chỗ đứng, không có chỗ nằm và được đăng kiểm ngày 16/12/2017, xe đã tham gia bảo hiểm vào ngày 18/12/2017 (tức là xe mới). Do vậy, khi xảy ra sự va chạm đã có sự sai lệch về thiết kế. Theo quy tắc bảo hiểm chỉ xe cũ đã lưu hành mới phải đánh giá tình trạng xe trước khi tham gia bảo hiểm (Tức phải chụp ảnh tình trạng xe). Do vậy, Tổng công ty bảo hiểm PVI từ chối bồi thường số tiền số tiền chi phí sửa chữa xe do nguyên đơn cung cấp là 480.955.000 đồng chưa bao gồm VAT và và không chấp nhận thanh toán số tiền lãi chậm trả 0.75%/tháng là 39.318.071 đồng. Tổng cộng là 520.273.071 đồng.

Theo giấy xác nhận chuyển quyền thụ hưởng bảo hiểm xe cơ giới do Ngân hàng TMCP Tiên Phong thì trong trường hợp có tổn thất trong phạm vi bảo hiểm, Công ty Bảo hiểm sẽ thanh toán tiền bảo hiểm cho Ngân hàng Tiên phong – Người thụ hưởng đầu tiên. Tuy nhiên, Ngân hàng TMCP Tiên Phong đã chuyển toàn bộ quyền thụ hưởng Hợp đồng bảo hiểm xe cơ giới số C15996/AUTO/01/22/2017 cho ông Nguyễn Trọng Hà và đề nghị vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án.

Bản án dân sự sơ thẩm số 04/2020/DS-ST ngày 02/6/2020 của Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy; Xử:

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện tranh chấp hợp đồng bảo hiểm của ông Nguyễn Trọng Hà đối với Tổng công ty bảo hiểm PVI đối với số tiền 520.273.071 đồng. Trong đó 480.955.000 đồng tiền thiệt hại và số tiền lãi chậm trả 0,755/ tháng là 39.318.071 đồng.

Ngoài ra bản án còn tuyên quyền kháng cáo của các bên đương sự và về án phí.

Sau khi xét xử sơ thẩm ngày 12/6/2020, ông Nguyễn Trọng Hà làm đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Tại phiên hôm nay:

Nguyên đơn là ông Nguyễn Trọng Hà giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, giữ nguyên kháng cáo.

Người đại điện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Nguyễn Khắc Xuân trình bày ý kiến đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là ông Nguyễn Trọng Hà buộc Tổng công ty bảo hiểm PVI bồi thường tiền thiệt hại 480.955.000 đồng và tiền lãi chậm trả tính đến ngày 02/6/2020 số tiền 75.187.102 đồng.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Đỗ Hồng Sơn và ông Phí Văn Long thống nhất với lời trình bày của ông Nguyễn Khắc Xuân.

Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn là bà Trịnh Việt Hà trình bày ý kiến đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của phía nguyên đơn.

Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn là ông Phạm Sỹ Lương và ông Nguyễn Đức Anh thống nhất với lời trình bày của bà Trịnh Việt Hà.

Người làm chứng là chị Nguyễn Thị Phượng trình bày trong bản tự khai ngày 02/12/20202: “…Trong quá trình tư vấn bảo hiểm tôi không cung cấp quy tắc bảo hiểm xe cơ giới cho ông Nguyễn Trọng Hà (Vì tôi không được PVI cung cấp). Tôi cũng không biết đầy đủ các nội dung của quy tắc bảo hiểm xe cơ giới của PVI để tư vấn cho ông Nguyễn Trọng Hà...” và chị Phượng xin vắng mặt khi Tòa xử.

Các bên đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết nội dung vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên toà phát biểu quan điểm:

Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng, đầy đủ các bước tố tụng theo quy định của pháp luật kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi nghị án.

Các đương sự chấp hành đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Đơn kháng cáo của nguyên đơn làm trong hạn luật định và đã nộp tạm ứng án phí đầy đủ nên được coi là hợp lệ về hình thức.

Về nội dung: Sau khi phân tích nội dung vụ án, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự sửa bản án sơ thẩm theo hướng xác định lỗi của các bên là 50/50. Buộc Tổng công ty bảo hiểm PVI bồi thường cho ông Nguyễn Trọng Hà ½ số tiền 480.955.000 đồng tiền thiệt hại và số tiền lãi chậm trả 0,755/ tháng là 39.318.071 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa Nhận thấy:

1. Về hình thức: Nguyên đơn là ông Nguyễn Trọng Hà làm đơn kháng cáo trong hạn luật định, đã nộp dự phí kháng cáo về hình thức là hợp lệ. Tại phiên tòa ngày hôm nay các đương sự không xuất trình được thêm tài liệu, chứng cứ gì mới.

2. Về nội dung: Xét kháng cáo của ông Nguyễn Trọng Hà

2.1. Về hợp đồng bảo hiểm:

Ngày 18/12/2017, ông Nguyễn Trọng Hà và Công ty bảo hiểm PVI Hà Nội do ông Lê Ngọc Hiếu phó phòng kinh doanh khu vực Hà Nội 5 được ủy quyền có tham gia ký kết Hợp đồng bảo hiểm xe cơ giới số C15996/AUTO/01/22/2017 (Hợp đồng bảo hiểm số C15996) với đối với xe ô tô biển kiểm soát 29B-190.04, nhãn hiệu xe Ford Transit (16 chỗ), số tiền bảo hiểm: 800.000.000 đồng (Tám trăm triệu đồng). Hợp đồng bảo hiểm số C15996 có hiệu lực từ 15h00 ngày 18/12/2017 đến 15h00 ngày 18/12/2018, phí bảo hiểm (bao gồm phụ phí và thuế GTGT) là 12.400.000 đồng (Mười hai triệu bốn trăm nghìn đồng). Xét nội dung và hình thức phù hợp với pháp luật, người tham gia ký kết có đủ thẩm quyền nên Hợp đồng bảo hiểm xe cơ giới số C15996/AUTO/01/22/2017 ngày 18/12/2017 có hiệu lực pháp lý. Trong Hợp đồng bảo hiểm nêu trên có ghi tại điều 2: “đối tượng tham gia bảo hiểm: Bên A đồng ý tham gia bảo hiểm và bên b đồng ý nhận bảo hiểm cho xe ôtô thuộc sở hữu/ quyền quản lý, sử dụng hợp pháp của bên A dưới đây: Biển kiểm soát: 29B – 190.04 , nhãn hiệu xe FORD TRANSIT năm sản xuất 2017, tình trạng xe mới 100%”. Quá trình thực hiện Hợp đồng ông Nguyễn Trọng Hà đã đóng đầy đủ tiền bảo hiểm và Công ty bảo hiểm PVI Hà Nội đã cấp giấy chứng nhận bảo hiểm số 0367630 ngày 15/12/2017 với thời hạn bảo hiểm từ ngày 15/12/2017 đến ngày 15/12/2018. Điểm đ khoản 1 điều 13 Luật kinh doanh bảo hiểm quy định “ Hợp đồng bảo hiểm phải có những nội dung sau đây : Điều khoản loại trừ trách nhiệm”,

Khoản 2 Điều 16 Luật kinh doanh bảo hiểm quy định: “ Điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm phải được quy định rõ trong hợp đồng bảo hiểm. Doanh nghiệp bảo hiểm phải giải thích rõ cho bên mua bảo hiểm khi giao kết hợp đồng”. Thấy rằng đối tượng bảo hiểm là xe cơ giới. Căn cứ vào tại điểm a Điều 1 Hợp đồng bảo hiểm xe cơ giới số C15996/AUTO/01/22/2017 ngày 18 tháng 12 năm 2017 do hai bên ký kết quy định: “Quy tắc bảo hiểm xe cơ giới được ban hành kèm theo Quyết định số 1306/QĐ – PVIBH ngày 29/12/2016 của Tổng công ty bảo hiểm PVI áp dụng cho các loại hình bảo hiểm tự nguyện bên A tham gia theo điều 3 dưới đây.”.

Tại Điều 6.1 Hợp đồng quy định trách nhiệm của bên A: Tuân thủ các quy định của Quy tắc bảo hiểm, điều khoản bổ sung và các nội dung của Hợp đồng này cùng tại điều 6, khoản 6.2 của Hợp đồng bảo hiểm ghi rõ: Trách nhiệm của bên B (Công ty bảo hiểm PVI Hà Nội) cung cấp quy tắc bảo hiểm, hướng dẫn giải thích những quy định về bảo hiểm khi bên A yêu cầu.

Các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện ông Nguyễn Trọng Hà đã được cấp giấy chứng nhận bảo hiểm số 0430707 ngày 18 tháng 12 năm 2017, trên giấy chứng nhận bảo hiểm có ghi rõ: Bằng việc ký vào Giấy yêu cầu bảo hiểm/Hợp đồng bảo hiểm, bên mua bảo hiểm xác nhận đã đọc và hiểu nội dung Quy tắc bảo hiểm xe cơ giới của bảo hiểm PVI.

Trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩm người làm chứng là chị Nguyễn Thị Phượng có trình bày trong quá trình tư vấn bảo hiểm chị Phượng không cung cấp quy tắc bảo hiểm xe cơ giới cho ông Nguyễn Trọng Hà (Vì chị Phượng không được PVI cung cấp). Chị Phượng cũng không biết đầy đủ các nội dung của quy tắc bảo hiểm xe cơ giới của PVI để tư vấn cho ông Nguyễn Trọng Hà. Ngày 14/12/2020, Hội đồng xét xử nhận được ý kiến của bà Đỗ Quý Anh là trưởng phòng phụ kiện bảo hiểm của Công ty TNHH MTV kinh doanh và dịch vụ ô tô Hà Nội gửi cho Công ty bảo hiểm PVI Hà Nội về quá trình mua bán bảo hiểm của ông Nguyễn Trọng Hà đối với chiếc xe ô tô có Biển kiểm soát: 29B – 190.04 , nhãn hiệu xe FORD TRANSIT năm sản xuất 2017; Hội đồng xét xử xét thấy việc ông Nguyễn Trọng Hà là nguyên đơn phản ánh không nhận được bất kỳ tư vấn, tài liệu bảo hiểm, không biết tới quy tắc bảo hiểm do Tổng công ty PVI ban hành kèm theo quyết định số 1306/QĐ-PVIBH ngày 29/12/2016 liên quan đến việc bảo hiểm cho xe ôtô thuộc sở hữu/ quyền quản lý, sử dụng hợp pháp của bên A dưới đây: Biển kiểm soát: 29B – 190.04 , nhãn hiệu xe FORD TRANSIT năm sản xuất 2017, tình trạng xe mới 100% là không có sơ sở. Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm nhận định ông Nguyễn Trọng Hà cho rằng không biết Quy tắc bảo hiểm là không có cơ sở để chấp nhận là có căn cứ. Quy tắc bảo hiểm được áp dụng cho cả hai bên, đã được nêu rõ tại Hợp đồng bảo hiểm, Ông Nguyễn Trọng Hà khi ký Hợp đồng bảo hiểm phải tuân thủ các quy định của quy tắc bảo hiểm do Tổng công ty PVI ban hành kèm theo quyết định số 1306/QĐ-PVIBH ngày 29/12/2016 liên quan đến việc bảo hiểm.

2.2. Về thiệt hại liên quan đến bảo hiểm:

Các Đương sự trong vụ án đều thống nhất thừa nhận ngày 18/04/2017, tại Km số 51 + 700 cao tốc Hà Nội – Thái Nguyên, xe oto 29B – 190.04 của ông Nguyễn Trọng Hà do anh Cao Văn Mạnh điều khiển đâm vào đuôi xe ôtô tải BKS 99C – 038.05 đậu ven đường. Theo biên bản giải quyết vụ tại nạn giao thông thì lỗi của các bên liên quan vụ tai nạn giao thông thuộc về anh Cao Xuân Mạnh là người điều khiển xe ô tô BKS 29B-190.04

Theo Kết quả giám định số 961A/C54 – P2 ngày 30/5/2018 của Viện Khoa học hình sự: Tại thời điểm va chạm xe ô tô BKS 29B-190.04 đã thay đổi thiết kế khoang chở khách đã không còn ghế ngồi, không có lớp vỏ thành xe, trần xe và các cửa xe, hở phần khung kim loại, sàn khoang chở khách của xe được lắp thêm các tấm gỗ dày, được lắp chắc chắn với sàn xe bằng đinh vít, có nhiều bụi bẩn, không có các lỗ để lắp bu lông liên kết với ghế ngồi. Tại thời điểm giám định xe ô tô BKS 29B-190.04 có sự sai lệch về kết cấu khoang chở khách so với thông tin trong Giấy chứng nhận kiểm định số KC4212404 (có hiệu lực từ ngày 16/10/2017 đến ngày 15 tháng 6 năm 2019). Căn cứ điểm d khoản 6 điều 9 Thông tư số 70/2015 – BGTVT ngày 09/11/2015 của Bộ GTVT quy định: Giấy chứng nhận kiểm định và tem kiểm định hết hiệu lực khi thông số kỹ thuật thực tế của xe không phù hợp với thông số kỹ thuật trên Giấy chứng nhận kiểm định.

Theo Báo cáo giám định cuối cùng của công ty TNHH giám định, Định giá & Dịch vụ kỹ thuật Bảo Tín: Tại thời điểm xảy ra tai nạn xe ô tô đã được chủ xe thay đổi kết cấu khoang chở khách so với chế tạo của nhà sản xuất và chưa được cơ quan đăng kiểm cấp phép mới thay thế cho Giấy chứng nhận kiểm định số KC 4212404, quá trình làm việc chủ xe không cung cấp giấy phép bổ sung hoặc Giấy chứng nhận kiểm định khác thay thế cho Giấy chứng nhận kiểm định KC 4212404 phù hợp với sự thay đổi thông số kỹ thuật của xe.

Tại phiên tòa phúc thẩm ông Hà cùng trình bày là biết kết quả giám định số 961A/C54 – P2 ngày 30/5/2018 của Viện Khoa học hình sự và báo cáo giám định cuối cùng của công ty TNHH giám định, Định giá & Dịch vụ kỹ thuật Bảo Tín, ông Hà không có ý kiến thắc mắc, khiếu nại gì.

Theo quy định tại Khoản 4 Điều 4 Thông tư số 85/2014/TT-BGTVT của Bộ Giao thông vận tải quy định: “… Không cải tạo xe cơ giới loại khác thành xe chờ người và ngược lại, trừ trường hợp cải tạo xe ô tô chờ người từ 16 chỗ (kể cả chỗ người lái) trở xuống thành xe ô tô tải VAN…”.

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 10 Thông tư số 85/2014/TT-BGTVT của Bộ Giao thông vận tải quy định: “… Xe cơ giới sau khi thi công cải tạo theo thiết kế đã thẩm định phải được Cục Đăng kiểm Việt Nam hoặc đơn vị đăng kiểm xe cơ giới (sau đây gọi chung là cơ quan nghiệm thu) nghiệm thu theo trách nhiệm quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều này và cấp giấy chứng nhận chất lượng an toàn ký thuật và bảo vệ môi trường xe cơ giới cải tạo theo mẫu quy định tại Phụ lục V ban hành kèm theo Thông tư này (sau đây gọi là giấy chứng nhận cải tạo).

Theo quy định tại điểm b Khoản 2 Điều 10 Thông tư số 85/2014/TT-BGTVT của Bộ Giao thông vận tải quy định: “…Cải tạo toàn bộ buồng lái, thân xe, khoang chở khách của xe chở người…”.

Theo hợp đồng bảo hiểm thì xe ô tô do ông Hà làm chủ sở hữu tham gia bảo hiểm xe ô tô để kinh doanh.

Việc thay đổi kết cấu của ông Hà vi phạm Khoản 2 Điều 55 Luật Giao thông đường bộ quy định: “Chủ phương tiện không được tự thay đổi kết cấu, tổng thành, hệ thống của xe không đúng với thiết kế của nhà chế tạo hoặc thiết kế cải tạo đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt”. Hội đồng xét xử xét thấy tại thời điểm xảy ra tai nạn giao thông ngày 19/4/2018 xe ôtô BKS 29B – 190.04, Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ số KC4212404 hết hiệu lực.

Như vậy, sự cố va chạm giao thông xảy ra ngày 19/4/2018 của xe ôtô 29B – 190.04 thuộc điểm loại trừ chung theo Quy Tắc bảo hiểm xe cơ giới số 1306/QĐ – PVIBH ngày 29/12/2016 được quy định tại Khoản 2 Điều 10 của Quy tắc bảo hiểm xe cơ giới: Tại thời điểm tham gia giao thông hay xảy ra tổn thất, thiệt hại xe không có giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ hợp lệ và còn hiệu lực theo quy định của pháp luật hiện hành.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Hà về việc đòi tiền bảo hiểm đối với xe ô tô ô tô Biển kiểm soát 29B-190.04 là 480.955.000 đồng và số tiền lãi chậm trả 0,755/ tháng là 39.318.071 đồng. Tổng cộng: 520.273.071 đồng là có căn cứ.

Ngân hàng TMCP Tiên Phong đã chuyển toàn bộ quyền thụ hưởng Hợp đồng bảo hiểm xe cơ giới số C15996/AUTO/01/22/2017 cho ông Nguyễn Trọng Hà và đề nghị vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án nên Tòa án cấp sơ thẩm không xem xét giải quyết là có căn cứ.

Như vậy phía bị đơn kháng cáo nhưng không đưa ra được các tài liệu chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình nên không có căn cứ để chấp nhận.

Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội có phần phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

Về án phí:

Về án phí dân sự sơ thẩm: ông Nguyễn Trọng Hà phải chịu theo quy định pháp luật.

Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Nguyễn Trọng Hà phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng:

- Khoản 1 Điều 308; Điều 147; Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Căn cứ điều 385, 401, 404, 405 Bộ luật dân sự năm 2015.

- Căn cứ điều 12, điều 13, điều 16,điều 17, điều 18 Luật kinh doanh bảo hiểm .

- Căn cứ Khoản 2 Điều 55 Luật Giao thông đường bộ.

- Căn cứ Thông tư số 85/2014/TT-BGTVT ngày 31/12/2014 của Bộ Giao thông vận tải.

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội.

Xử:

1. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 04/2020/DS-ST ngày 02/6/2020 của Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy và quyết định cụ thể như sau:

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện tranh chấp hợp đồng bảo hiểm của ông Nguyễn Trọng Hà đối với Tổng công ty bảo hiểm PVI đối với số tiền 520.273.071 đồng. Trong đó 480.955.000 đồng tiền thiệt hại và số tiền lãi chậm trả 0,755/ tháng là 39.318.071 đồng.

2. Về án phí:

2.1. Án phí sơ thẩm:

Ông Nguyễn Trọng Hà phải chịu 24.810.923 đồng án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 12.405.000 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 7416 ngày 01/10/ 2019 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Cầu Giấy, Hà Nội. Ông Hà còn phải nộp tiếp số tiền án phí sơ thẩm là 12.405.923 đồng.

Tổng công ty bảo hiểm PVI không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

2.2. Án phí phúc thẩm:

Ông Nguyễn Trọng Hà phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm. Được trừ vào số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp tại biên lai số: AA/2018/0003565 ngày 23/7/2020 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Cầu Giấy, Hà Nội.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Cỡ chữ