vanban.org

Bản án 37/BA

TAND TP. Cà Mau, tỉnh Cà Mau Tuyên án 16/03/2021 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Phạm Kim Th, Nguyễn Việt Đ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”

Xử phạt Phạm Kim Th 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày 31/10/2020. Xử phạt Nguyễn Việt Đ 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù.Thời hạn tù được tính kể từ ngày 31/10/2020. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "MUA BÁN MA TÚY - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Phạm Kim Th, Nguyễn Việt Đ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 101 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CÀ MAU
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 37/2021/HS-ST
Ngày 16 - 3 - 2021

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lương Tiến Sĩ

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Huỳnh Minh Bền

Bà Tạ Thị Huế

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Linh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau tham gia phiên tòa: Bà Phạm Văn Đa - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 15, 16 tháng 3 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 35/2021/HSST ngày 17 tháng 02 năm 2021 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số : 134/2021/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 02 năm 2021 đối với các bị cáo:

1/ Phạm Kim Th ; Sinh ngày 17/01/2003; Tên gọi khác : không; Tại : xã Phong Thạnh Tây A, huyện A, tỉnh B; Nơi cư trú: Ấp Giao Khẩu, xã Tân Phú, huyện C, tỉnh D; Nơi tạm trú: Khóm G, phường H, thành phố K, tỉnh D; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 11 /12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông : Phạm Việt Chung và bà Trương Thị Triệu ; Chồng :chưa có; Tiền án; Tiền sự : không; nhân thân : tốt; Bị tạm giữ ngày 31 tháng 10 năm 2020 đến nay. Có mặt.

2/ Nguyễn Việt Đ ; Sinh ngày 18/12/2002; tên gọi khác : không; Tại : huyện E, tỉnh D; Nơi cư trú: Ấp Đá Bạc, xã Khánh Bình Tây, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau; Nơi tạm trú: Khóm G, phường H, thành phố K, tỉnh D; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 10 /12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông : không rõ họ và tên và bà Nguyễn Lan Anh ; Vợ : chưa có; Tiền án, Tiền sự: Không; nhân thân : tốt; Bị tạm giữ ngày 31 tháng 10 năm 2021 đến nay. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN :

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau :

Vào khoảng 21 giờ 15 phút ngày 30 tháng 10 năm 2020, lực lượng Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố Cà Mau kết hợp với Công an phường H thành phố K tiến hành kiểm tra phòng trọ số 05 do Nguyễn Việt Đ cùng với Phạm Kim Ththuê ở tại nhà trọ cho thuê tháng số 66, phường H, thành phố K . Khi kiểm tra phát hiện trên la phong trong phòng 01 hộp giấy màu đen bên trong có 5 bịch nilon chứa chất nghi là ma túy nên lực lượng tiến hành thu giữ và niêm phong tang vật cụ thể như sau:

- 01 (một) bọc nilon bên trong chứa 10 (mười) viên nén hình chữ nhật màu xanh;

- 01 (một) bọc nilon bên trong chứa 20 (Hai mươi) viên nén hình chữ nhật màu xanh;

- 01 (một) bọc nilon bên trong chứa 01 (một) viên nén hình chữ nhật màu xanh và 02 (Hai) viên nén hình tam giác màu xanh;

- 01 (một) bọc nilon bên trong có 09 (Chín) bọc nilon đều chứa tinh thể màu trắng;

- 01 (một) bọc nilon bên trong có 05 (Năm) bọc nilon đều chứa tinh thể màu trắng.

Tất cả được lực lượng tiến hành đưa 05 bọc nilon vào túi niêm phong mã số PS3A 086011, có chữ ký của Nguyễn Việt Đ, Phạm Kim Th. Ngoài ra, còn thu giữ thêm tang vật gồm:

- Một hộp giấy màu đen, 01 đoạn ống nhựa màu đen dùng để chiết ma túy, 06 bọc nilon không đựng gì màu trắng;

- Một xe mô tô 69B1- 164.87;

- Thu giữ của Phạm Kim Th 01 điện thoại di động màu bạc mặt sau có chữ Iphone và hình trái táo khuyết, bị bể màn hình và tiền Việt Nam 11.000.000 đồng;

- Thu giữ của Nguyễn Việt Đ 01 điện thoại di động màu vàng đồng, mặt sau có chữ Iphone và hình trái táo khuyết, có gắn sim số xxxx.xxx.xxx.

Tại kết luận giám định số 230/GĐH-PC09 ngày 04 tháng 11 năm 2020 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Cà Mau kết luận:

- 10 (Mười) viên nén hình chữ nhật màu xanh bên trong bọc nilon thứ nhất được niêm phong kín trong túi niêm phong mã số PS3A 086011, ký hiệu M.96/2020, thu giữ vào ngày 30.10.2020 gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 3,3846gam, loại MDMA;

- 20 (Hai mươi) viên nén hình chữ nhật màu xanh bên trong bọc nilon thứ hai được niêm phong kín trong túi niêm phong mã số PS3A 086011, ký hiệu M.96/2020, thu giữ vào ngày 30.10.2020 gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 6,8005gam, loại MDMA;

- 01 (Một ) viên nén hình chữ nhật màu xanh bên trong bọc nilon thứ ba được niêm phong kín trong túi niêm phong mã số PS3A 086011, ký hiệu M.96/2020, thu giữ vào ngày 30.10.2020 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,3424gam, loại MDMA;

- 02 (Hai) viên nén hình tam giác màu xanh bên trong bọc nilon thứ ba được niêm phong kín trong túi niêm phong mã số PS3A 086011, ký hiệu M.96/2020, thu giữ vào ngày 30.10.2020 gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,8546gam, loại MDMA;

- Tinh thể màu trắng chứa trong 09 (Chín) bọc nilon bên trong bọc nilon thứ tư được niêm phong kín trong túi niêm phong mã số PS3A 086011, ký hiệu M.96/2020, thu giữ vào ngày 30.10.2020 gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 2,1355gam, loại Ketamine;

- Tinh thể màu trắng chứa trong 05( Năm) bọc nilon bên trong bọc nilon thứ năm được niêm phong kín trong túi niêm phong mã số PS3A 086011, ký hiệu M.96/2020, thu giữ vào ngày 30.10.2020 gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 8, 4314gam, loại Ketamine.

Quá trình điều tra Phạm Kim Th, Nguyễn Việt Đ khai nhận : Vào khoảng tháng 10 năm 2020, Phạm Kim Th và Nguyễn Việt Đ đến thuê phòng trọ số 5, Nhà trọ cho thuê tháng số 66, phường H, thành phố K để cùng nhau sinh sống. Trong quá trình chung sống, Th rủ Đ mua chất ma túy về bán lại cho các con nghiện để kiếm tiền tiêu xài thì Đ đồng ý. Vào ngày 25 hoặc 26 tháng 10 năm 2020, Th điện thoại cho người thanh niên bán chất ma túy (không xác định được nhân thân cụ thể, không nhớ số điện thoại ) hỏi mua 50 (năm mươi) viên thuốc lắc với giá 150.000 đồng/01 viên và 01 hộp 10 Ma túy Khay với giá tiền là 5.000.000 đồng thì người thanh niên này đồng ý và yêu cầu chuyển tiền trả bằng hình thức chuyển qua Cửa hàng Thế giới di động. Sau khi thỏa thuận xong thì ngày hôm sau có người giao hàng (mặc trang phục của Công ty giao hàng nhanh) đến phòng trọ số 5 giao cho Th 01 hộp giấy bên trong chứa chất ma túy, sau đó Th đến Cửa hàng Thế giới di động chuyển tiền trả số tiền cho người bán ma túy.

Sau khi mua được chất Ma túy, Th tự đi mua các loại bọc nylon nhỏ rồi phân chia ma túy ra thành nhiều bọc để bán cho các con nghiện. Phân chia xong Th cất vào hộp giấy rồi đưa cho Đ cất giấu trên trần la phong trong phòng trọ. Đến tối ngày 29 tháng 10 năm 2020, Đào Lê Ng đến Quán Karaoke Gosship, thuộc phường H, thành phố K chơi và gọi điện thoại cho Th hỏi mua 03 viên thuốc lắc, giá 200.000 đồng/01 viên thì Th đồng ý bán. Sau đó, Thư kêu Nguyễn Việt Đ lấy 03 viên thuốc lắc đưa Th và điều khiển xe chở Th đến quán Karaoke Gosship giao cho Ng, rồi lấy số tiền 600.000 đồng.

Quá trình điều tra, Đào Lê Ng trình bày: do có mối quan hệ là bạn bè, quen biết với Phạm Kim Th. Vào ngày 29 tháng 10 năm 2020, Ng đến chơi tại Karaoke Gosship, thuộc phường H, thành phố K và gọi điện thoại cho Th để mua 03 viên thuốc lắc thì Th đồng ý bán. Sau đó Th đến giao tại Karaoke Gosship, với giá 200.000 đồng/viên.

Ngoài ra, Phạm Kim Th còn khai nhận: Trong khoảng thời gian đầu tháng 10 năm 2020, Th không xác định chính xác thời gian cũng đã mua của người thanh niên này 01 lần được 50 viên thuốc lắc và 01 hộp 10 Ma túy Khay, số tiền cụ thể Th không nhớ rõ. Sau đó, Th tự phân chia lẻ ra và bán cho người tên M, L và Bé Th (đều không xác định được họ tên, nhân thân cụ thể), thu lợi nhuận được khoảng 1.000.000 đồng. Lần này Đ không hay biết, không tham gia bán chất ma túy với Th.

Tại bản Cáo trạng số: 44/CT-VKS, ngày 17 tháng 02 năm 2021 Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau đã truy tố bị cáo Phạm Kim Th và Nguyễn Việt Đ về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm p khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự .

Tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu.

Tại phiên tòa, đại diện Kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử :

Áp dụng điểm p khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 91, 101 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố Phạm Kim Th và Nguyễn Việt Đ về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”

Xử phạt: Phạm Kim Th từ 05 năm tù đến 05 năm 06 tháng tù; Xử phạt Nguyễn Việt Đ từ 04 năm 06 tháng tù đến 05 năm tù.

Về vật chứng : tịch thu tiêu hủy mẫu vật ma túy hoàn lại sau khi giám định được niêm phong trong phong bì ký hiệu 230/GĐH-PC09 ngày 04/11/2020 .

Tịch thu tiêu hủy 01 hộp giấy màu đen, 01 đoạn ống nhựa dùng để chiết ma túy và 06 bọc nylon trắng .

Hoàn trả cho bị cáo Nguyễn Việt Đ 01 điện thoại di động hiệu Iphone gắn sim số xxxxxxxxxx.

Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Iphone gắn sim số xxxxxxxxxx của Phạm Kim Th dùng vào việc liên hệ mua ma túy.

Đối với xe mô tô biển số 69B1-164.87: Quá trình điều tra, Nguyễn Việt Đ trình bày, do thuê của người chị tên X (Không rõ nhân thân) để dùng làm phương tiện đi lại hàng ngày. Qua tra cứu thông tin đăng ký thể hiện do bà Trần Thị X, cư trú tại đường Quang Trung, khóm N, phường H, thành phố K, tỉnh D đăng ký chủ sở hữu. Hiện nay, bà X không có mặt tại địa phương nên không làm việc được. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Cà Mau tách xe mô tô biển số 69B1-164.87 để tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ, xử lý sau.

Đối với số tiền 1.600.000đ bị cáo Th bán ma túy thu được.Buộc bị cáo nộp lại để sung quỹ nhà nước.

Đối với Đào Lê Ng: Quá trình điều tra xác định hành vi mua chất ma túy không đủ yêu tố cấu thành tội phạm nên không xem xét xử lý trách nhiệm hình sự trong vụ án này. Đề nghị Công an thành phố Cà Mau xem xét xử lý hành chính.

Đối với những đối tượng tên M, L và Bé Th: Do Phạm Kim Th khai không biết tên, không xác định được nhân thân cụ thể nên không làm việc được. Do đó, giao Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Cà Mau tiếp tục xác minh, làm rõ, có căn cứ xem xét xử lý sau.

Đối với người thanh niên bán chất ma túy cho Th: Do Th khai không biết tên và nhân thân cụ thể, không nhớ số điện thoại liên lạc, không nhớ thông tin tài khoản chuyển tiền nên không xác định được. Do đó, giao Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Cà Mau tiếp tục xác minh, điều tra làm rõ, khi nào có căn cứ, xem xét xử lý sau.

Án phí các bị cáo chịu theo quy định;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN :

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau :

Tại phiên tòa hôm nay các bị cáo Th, Đ khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện : Vào ngày 29 tháng 10 năm 2020, Phạm Kim Th và Nguyễn Việt Đ bán cho Đào Lê Ng 03 viên ma túy thuốc lắc (MDMA) với giá 600.000 đồng, tại Karaoke Gosship, thuộc phường H, thành phố K, tỉnh D. Đến khoảng 21 giờ 15 phút ngày 30 tháng 10 năm 2020, lực lượng Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố Cà Mau kết hợp với Công an phường H thành phố K phát hiện bắt quả tang Phạm Kim Th và Nguyễn Việt Đ có hành vi cất giấu chất ma túy là MDMA có tổng trọng lượng là 11,3821 gam, và Ketamine có tổng trọng lượng là 10,5669 gam tại phòng trọ số 05, nhà trọ cho thuê tháng số 66 , phường K, thành phố K. Với hành vi trên của các bị cáo đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm p khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự đúng như kết luận của Kiểm sát viên là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, điều tra viên, kiểm sát viên, viện kiểm sát thành phố Cà Mau, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Các bị cáo và người tham gia tố tụng khác đều không có ý kiến, khiếu nại gì nên các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến chính sách độc quyền quản lý nhà nước về các chất ma túy. Bản thân các bị cáo là người nghiện ma túy nên nhận thức rất rõ tác hại của ma túy làm ảnh hưởng đến sức khỏe đời sống của con người, gián tiếp xảy ra các tệ nạn xã hội nhưng các bị cáo vẫn lao sâu vào con đường phạm tội, vì vậy cần có biện pháp xử lý nghiêm.

Về tình tiết định khung hình phạt: Hành vi của các bị cáo không vi phạm các tình tiết định khung tăng nặng khác nên chỉ bị xét xử theo khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự : Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại Điều 52 bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt : Quá trình điều tra, cũng như tại phiên Tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, ngoài ra bị cáo Th có bà nội ruột là bà Huỳnh Thị A được Nhà Nước tặng danh hiệu bà mẹ Việt Nam anh hùng, ông nội ruột tên Phạm Văn Đ được Nhà Nước tặng thưởng Huân Chương Kháng chiến hạng nhì và bác ruột tên Phạm Văn A là liệt sỹ; bị cáo Đ có ông ngoại ruột là ông Nguyễn Văn Đ là thương binh hạng 4/4, nên các bị cáo được hưởng tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình Sự. Mặc khác khi phạm tội các bị cáo ở tuổi vị thành niên nên có phần bị hạn chế khả năng nhận thức, do đó khi lượng hình cần xem xét các tình tiết này để giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Tuy nhiên xét về tính chất phạm tội của từng bị cáo trong vụ án. Bị cáoTh là người rủ rê, lôi kéo bị cáo Đ tham gia việc mua bán ma túy, đồng thời là người trực tiếp liên hệ mua ma túy và bán ma túy cho các đối tượng nghiện, do đó khi lượng hình cần xử phạt bị cáo Th mức hình phạt cao hơn bị cáo Đ . Đối với bị cáo Đ trong vụ án này bị cáo chỉ là người giúp bị cáo Th cất giấu ma túy nên chỉ là đồng phạm có vai trò không đáng kể trong vụ án, do đó khi lượng hình cần xem xét cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.

Đối với Đào Lê Ng. Quá trình điều tra xác định hành vi mua chất ma túy không đủ yêu tố cấu thành tội phạm nên cơ quan điều tra và viện kiểm sát thành phố Cà Mau không xem xét xử lý trách nhiệm hình sự trong vụ án này mà đề nghị Công an thành phố Cà Mau xem xét xử lý hành chính là phù hợp.

Đối với người thanh niên bán chất ma túy cho Th và những đối tượng mua ma túy tên M, L và Bé Th. Do Phạm Kim Th khai không biết tên, không xác định được nhân thân cụ thể nên không làm việc được. Do đó viện kiểm sát thành phố Cà Mau tiếp tục giao Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Cà Mau xác minh, làm rõ, có căn cứ xem xét xử lý sau là phù hợp.

Về vật chứng gồm : 01 phong bì sau khi trích giám định và hoàn lại số 230/GĐH-PC09 ngày 04/11/2020 của phòng kỷ thuật hình sự công an tỉnh Cà Mau, và 01 hộp giấy màu đen, 01 đoạn ống nhựa và 06 bọc nylon trắng là dụng cụ bị cáoThư dùng để chiết ma túy, đây là vật liên quan đến việc phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp.

Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone gắn sim số xxxxxxxxxx mà cơ quan công an thu giữ của Phạm Kim Th, đây là tài sản của bị cáo dùng vào việc liên lạc mua bán ma túy nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước.

Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone gắn sim số xxxxxxxxxx là tài sản cá nhân Nguyễn Việt Đ không liên quan đến việc phạm tội nên xem xét hoàn trả cho bị cáo.

Đối với số tiền 1.600.000đ bị cáo bán ma túy, đây là khoản tiền thu lợi bất chính do phạm tội mà có nên cần buộc bị cáo nộp lại để sung quỹ nhà nước.

Đối với xe mô tô biển số 69B1-164.87: Quá trình điều tra, Nguyễn Việt Đ trình bày, do thuê của người chị tên X (Không rõ nhân thân) để dùng làm phương tiện đi lại hàng ngày. Qua tra cứu thông tin đăng ký thể hiện do bà Trần Thị X, cư trú tại đường Quang Trung, khóm G, phường H, thành phố K, tỉnh D đăng ký chủ sở hữu. Hiện nay, bà X không có mặt tại địa phương nên không làm việc được. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Cà Mau tách xe mô tô biển số 69B1-164.87 để tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ, xử lý sau. Vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét xử lý trong vụ án này, nếu sau này có tranh chấp thì liên hệ cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Cà Mau để giải quyết theo quy định của pháp luật.

Đối với số tiền Việt Nam 11.000.000 đồng: Quá trình điều xác định là tiền của bà Trương Thị Tr là mẹ ruột của Th cho Th để nộp tiền phí học nghề nhưng Th chưa nộp, bà Triệu xin được nhận lại. Ngày 05 tháng 12 năm 2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Cà Mau đã giao trả số tiền 11.000.000 đồng cho bà Trương Thị Tr nên không đặt ra việc xử lý.

Về án phí các bị cáo phải chịu theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH :

Căn cứ điểm p khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 47, 91, 101 của Bộ luật Hình sự ; Điều 106, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự ; Điều 23 Nghị quyết án phí, lệ phí Tòa án;

- Tuyên bố các bị cáo Phạm Kim Th, Nguyễn Việt Đ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”

Xử phạt Phạm Kim Th 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày 31/10/2020.

Xử phạt Nguyễn Việt Đ 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù.Thời hạn tù được tính kể từ ngày 31/10/2020.

Tịch thu tiêu hủy một phong bì sau khi trích giám định và hoàn lại số 230/GĐH-PC09 ngày 04/11/2020 của phòng kỷ thuật hình sự công an tỉnh Cà Mau.

Tịch thu tiêu hủy 01 hộp giấy màu đen, 01 đoạn ống nhựa và 06 bọc nylon trắng.

Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Iphone gắn sim số xxxxxxxxxx.

Hoàn trả Nguyễn Việt Đ 01 điện thoại di động hiệu Iphone gắn sim số xxxxxxxxxx .

Buộc bị cáo Phạm Kim Th nộp lại số tiền 1.600.000đ thu lợi bất chính do bán ma túy mà có để sung quỹ nhà nước.

- Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo Th và bị cáo Đ mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ ( chưa nộp ).

Các bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ