- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn P - chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự (điề…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn P phạm tội “Tàng trữ, vận chuyển trái phép vụ khí quân dụng”.
- Căn cứ chính? Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 37/2026/HS-ST Ngày 30 - 3 - 2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Công Bình.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phạm Hữu Dụng;
2. Ông Nguyễn Hoàng Thành.
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Hồng Phúc - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Trần Thanh Dương - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 3 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 12/2026/TLST-HS ngày 30 tháng 01 năm 2026, đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn P - Sinh ngày: 05/8/1994, tại tỉnh Đắk Lắk; căn cước công dân số: 066094015307; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn T, xã Q, tỉnh Đắk Lắk; nơi ở hiện nay: B L, xã Q, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 10/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn P1 và bà Nguyễn Thị H; bị cáo có vợ là Lê Thị Hồng N và có 2 con, con lớn sinh năm 2016, con nhỏ sinh năm 2023; tiền án, tiền sự: Không có. Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.
*/ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Lê Văn N1, sinh năm: 1995; địa chỉ: Tổ A, thôn T, xã Q, tỉnh Đắk Lắk, có mặt;
2. Ông Lê Văn H1, sinh năm: 1970; địa chỉ: Tổ A, thôn T, xã Q, tỉnh Đắk Lắk, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng tháng 5/2023, do có nhu cầu về súng săn để bắn sóc cắn phá trong vườn sầu riêng (trồng xen trong rẫy cà phê) của gia đình, nên Nguyễn Văn P đã truy cập mạng xã hội Facebook và liên hệ với một tài khoản Facebook (không rõ tên vì có ký tự là chữ tượng hình giống chữ Trung Quốc) đặt mua 01 khẩu súng hơi, đạn chì và một máy bơm khí nén với tổng số tiền là 22.000.000 đồng. Đến giữa tháng 5/2023, P bắt xe taxi từ nhà đến khu vực thuộc dự án E trên đường N, phường T, tỉnh Đắk Lắk gặp người đàn ông khoảng 40 tuổi đến 50 tuổi, đi xe ô tô tải (không rõ nhân thân, lai lịch, biển kiểm soát) để nhận khẩu súng hơi nén, đạn chì và máy bơm hơi được đóng gói trong một thùng giấy. Sau khi nhận hàng, P thanh toán số tiền là 22.000.000 đồng như đã thỏa thuận trước và 200.000 đồng tiền cước vận chuyển cho người này. Sau đó, P mang thùng hàng trên về rẫy của bố mẹ ở cuối đường Q thuộc xã Q, tỉnh Đắk Lắk để cất giấu, từ khoảng tháng 5/2023 đến 8/2025, P có sử dụng khẩu súng này để bắn chim, sóc trong vườn sầu riêng của gia đình mình.
Đến đầu tháng 9/2025, do không có nhu cầu sử dụng súng nữa nên P tiếp tục sử dụng tài khoản Facebook “Phúc N2” để truy cập tìm người bán lại ở các trang, hội nhóm trên mạng xã hội và được một tài khoản Facebook tên “Đức M” (không biết rõ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể) liên hệ đặt mua khẩu súng, đạn, bơm hơi với giá tiền là 17.000.000 đồng. Khoảng 12 giờ 40 phút ngày 24/9/2025, P thuê anh Lê Văn N1 là tài xế xe dịch vụ trú tại xã Q, tỉnh Đắk Lắk điều khiển xe ô tô 47A - 347.88 đến đón P đi giao khẩu súng với giá 500.000 đồng. Khi đến nơi, P hướng dẫn N1 lùi xe ô tô vào trong sân, P tự mở cốp xe và đặt một khăn vải xanh rằn ri để bọc súng, đạn và một máy bơm khí nén của mình vào trong, P không cho N1 biết là loại hàng hóa, đồ vật gì. Đến khoảng 13 giờ 00 phút cùng ngày, khi xe ô tô di chuyển trên đoạn đường thuộc tổ dân phố H, phường T, tỉnh Đắk Lắk, thì bị lực lượng chức năng phát hiện, kiểm tra và thu giữ bên trong cốp xe ô tô có 01 (một) khẩu súng hơi nén, 01 hộp nhựa chứa 370 viên đạn hình nón bằng kim loại màu xám và 01 cái máy bơm hơi.
Ngày 26/9/2025, Phòng Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, Công an tỉnh Đ đã tiến hành trưng cầu giám định đối với khẩu súng và số viên đạn thu giữ của Nguyễn Văn P. Tại Kết luận giám định số 765/KL-KTHS, ngày 03/10/2025 của Phòng K Công an tỉnh Đ, kết luận: Khẩu súng không có số hiệu do Phòng C về TTXH Công an tỉnh Đ gửi đến giám định là súng nén khí bắn đạn chì (loại súng PCP) thuộc danh mục vũ khí quân dụng theo Phụ lục 1 Thông tư số 75/2024/TT-BCA ngày 15/11/2024 của Bộ trưởng Bộ C1, khẩu súng này còn sử dụng để bắn được; 370 viên kim loại màu xám gửi giám định là đạn kim loại dạng hình trụ đầu tròn, có cùng kích thước 8mm thuộc danh mục vũ khí quân dụng theo Phụ lục 1 Thông tư số 75/2024/TT-BCA ngày 15/11/2024 của Bộ trưởng Bộ C1.
Ngày 14/10/2025, Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Đ ra quyết định trưng cầu giám định và tại Kết luận giám định số 900/KL-KTHS, ngày 24/10/2025 của Phòng K Công an tỉnh Đ, kết luận: Khẩu súng không có số hiệu do Cơ quan ANĐT Công an tỉnh Đ gửi đến giám định là súng nén khí bắn đạn chì (loại súng PCP) thuộc danh mục vũ khí quân dụng theo Phụ lục 1 Thông tư số 75/2024/TT-BCA ngày 15/11/2024 của Bộ trưởng Bộ C1, khẩu súng này còn sử dụng để bắn được; 362 viên kim loại màu xám gửi giám định là đạn kim loại dạng hình trụ đầu tròn, có cùng kích thước 8mm (không có hạt nổ và thuốc nổ) thuộc danh mục vũ khí quân dụng theo Phụ lục 1 Thông tư số 75/2024/TT-BCA ngày 15/11/2024 của Bộ trưởng Bộ C1, tất cả các viên đạn còn sử dụng được và dùng để bắn khẩu súng trên.
Tại bản Cáo trạng số: 03/CT-VKSDLK-P1, ngày 27/01/2026 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn P về tội: “Tàng trữ, vận chuyển trái phép vũ khí quân dụng” theo quy định tại khoản 1 Điều 304 của Bộ luật Hình sự.
Kết quả xét hỏi tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn P đã khai nhận toàn bộ hành vi mà bị cáo đã thực hiện đúng như nội dung vụ án đã được tóm tắt nêu trên.
Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Đã phân tích, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng và khẳng định hành vi của bị cáo Nguyễn Văn P đã phạm tội “Tàng trữ, vận chuyển trái phép vũ khí quân dụng” theo khoản 1 Điều 304 của Bộ luật Hình sự; đồng thời phân tích các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng khoản 1 Điều 304; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2 Điều 65 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn P mức án từ 01 năm 03 tháng tù đến 01 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm.
- Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu, tiêu hủy vật chứng là 01 khẩu súng nén khí và 354 viên đạn còn lại sau giám định; tịch thu sung công quỹ nhà nước: 01 cái máy bơm hơi và 01 điện thoại Iphone 15 Promax của bị cáo Nguyễn Văn P vì liên quan trực tiếp đến vụ án.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận, bào chữa gì và chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai của bị cáo Nguyễn Văn P tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận: Vào giữa tháng 5/2023, Nguyễn Văn P đã mua 01 (một) khẩu súng hơi nén và đạn chì đưa về cất giấu tại nhà và sử dụng bắn chim, sóc trong vườn sầu riêng của gia đình mình. Sau đó do không có nhu cầu sử dụng nên Nguyễn Văn P có ý định bán lại cho người khác và vào khoảng 13 giờ 00 phút ngày 24/9/2025, khi Nguyễn Văn P đang vận chuyển khẩu súng và số đạn chì, thì bị lực lượng chức năng của Phòng Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, Công an tỉnh Đ phối hợp với Công an phường T, tỉnh Đắk Lắk bắt quả tang và thu giữ 01 khẩu súng nén hơi, 370 viên đạn hình nón bằng kim loại và 01 bơm hơi nén. Kết quả giám định đã kết luận khẩu súng hơi nén và số đạn kim loại thu giữ là vũ khí quân dụng và còn sử dụng được. Như vậy, hành vi của bị cáo Nguyễn Văn P đã phạm tội “Tàng trữ, vận chuyển trái phép vũ khí quân dụng”, theo quy định tại khoản 1 Điều 304 của Bộ luật Hình sự.
Tại Điều 304 Bộ luật hình sự quy định:
1. Người nào chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự thì bị phạt tù từ 01 năm đến 07 năm.
Bị cáo là công dân có đầy đủ khả năng nhận thức và điều khiển được hành vi của bản thân, bị cáo biết được rằng việc tàng trữ, vận chuyển súng, đạn chì là hành vi vi phạm pháp luật, nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi cất giấu tại nơi ở của mình để sử dụng và có hành vi vận chuyển súng, đạn. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã vi phạm các quy định của Nhà nước về tàng trữ, vận chuyển, sử dụng và quản lý vũ khí quân dụng, đồng thời tiềm ẩn nguy cơ gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an của xã hội. Do đó bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội đã thực hiện.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ rõ sự ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; gia đình bị cáo có công với Cách mạng, có ông ngoại Nguyễn Kiên T được Nhà nước tặng Huy chương kháng chiến chống Mỹ hạng Nhì, vì đã có thành tích trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước; bản thân bị cáo là quân nhân xuất ngũ, đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự phục vụ tại ngũ trong Quân đội và hiện nay hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, có xác nhận của chính quyền địa phương nơi cư trú. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, do đó cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo là phù hợp.
Xét thấy, bị cáo phạm tội lần đầu, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nhân thân tốt và có nơi cư trú rõ ràng, nên không cần thiết phải cách ly bị cáo với xã hội mà cho bị cáo được hưởng án treo, để bị cáo tự cải tạo tại chỗ, dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương và gia đình là phù hợp, như vậy cũng đảm bảo được việc cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành một công dân tốt. Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ và phù hợp với pháp luật, nên Hội đồng xét xử cần chấp nhận.
Về xử lý vật chứng:
- Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ vật chứng, gồm: 01 (một) khẩu súng hơi có tổng chiều dài 82cm, ống giảm thanh, nòng súng màu xám, thân súng màu trắng bạc; tay cầm bằng nhựa màu xám xanh, có kích thước 10 x 6 cm; trên thân súng có gắn ống ngắm bằng kim loại màu đen dài khoảng 28cm, dưới ống ngắm có dòng chữ BOBCAT KING OPTICS 4-16X44, BK2403098; báng súng bằng kim loại màu nâu dài khoảng 29cm, bên ngoài báng súng có bọc sốp màu đen dài 16cm; bình khí nén màu đen, nhãn hiệu ALSAPE, đầu bình khí nén có dòng chữ và số USA18114193 (được niêm phong theo quy định) và 354 (ba trăm năm mươi bốn) viên đạn bằng kim loại hình nón, còn lại sau giám định (được niêm phong theo quy định). Đây là vật chứng của vụ án không có giá trị sử dụng, nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định của pháp luật.
- Đối với đồ vật thu giữ là 01 (một) tấm vải màu xanh rằn ri, xét thấy đồ vật này không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp.
- Đối với đồ vật, tài sản thu giữ của bị cáo Nguyễn Văn P, gồm: 01 (một) điện thoại Iphone 15 Promax số IMEI 1: 350814292688231, số IMEI 2: 350814292717295, 01 (một) máy bơm hơi nhãn hiệu NEW WARRIOR, kích thước 33 x 17 x 37cm. Đây là công cụ, phương tiện liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo, nên cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước. Đối với 01 sim điện thoại Viettel số sêri: 8984048000948025098 không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
- Quá trình điều tra, Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Đ đã ra Quyết định xử lý đồ vật, tài sản và đã trả lại cho những người liên quan, gồm: Trả cho ông Lê Văn H1 01 xe ô tô biển kiểm soát 47A - 347.88 và 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 064956 mang tên Lê Văn H1; trả lại cho ông Lê Văn N1 01 điện thoại Oppo A18 số IMEI 1: 863000061572273; số IMEI 2: 863000061572265 và 01 sim Viettel số seri: 8984048008818476432 vì không liên quan đến vụ án. Xét thấy, việc giao trả là đúng đắn nên Hội đồng xét xử cần chấp nhận.
- Ngày 09/01/2026, Cơ quan An ninh điều tra trả lại tài sản, đồ vật, tài liệu là 01 thẻ nhớ màu đỏ, vàng, đen, bên trên thẻ nhớ có các ký tự “MI”, “1TB”, “PRO microV30” do Lê Văn N1 tự nguyện giao nộp bằng hình thức trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp vì không liên quan đến vụ án, nên không đề cập xử lý là phù hợp.
Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn P bị tuyên phạm tội, nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Trong vụ án này, đối với đối tượng đã bán súng, đạn cho Nguyễn Văn P, thì trong quá trình điều tra, ngoài lời khai của bị cáo thì không có tài liệu, chứng cứ nào khác để xác định nhân thân lai lịch các đối tượng này và đối tượng sử dụng tài khoản Facebook tên “Đ” liên hệ để mua khẩu súng, đạn, thì ngoài lời khai của bị cáo P, không có tài liệu, chứng cứ nào khác để xác định nhân thân, lai lịch. Do đó Cơ quan An ninh điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ các đối tượng này và khi có căn cứ thì sẽ xử lý theo quy định.
Đối với Lê Văn N1 là lái xe dịch vụ, không biết việc bị cáo P có khẩu súng, đạn giấu trong hàng hóa đi cùng, anh N1 không có hành vi che giấu, giúp sức hoặc cùng tham gia vào việc phạm tội của P. Do đó Cơ quan An ninh điều tra không đề cập xử lý là có căn cứ. Đối với bà Lê Thị Hồng N, là vợ của bị cáo Nguyễn Văn P, mặc dù sống chung một nhà với bị cáo P, nhưng không biết việc bị áo P tàng trữ, cất giấu, vận chuyển khẩu súng và đạn. Do đó Cơ quan An ninh điều tra không đề cập xử lý đối với bà N là có căn cứ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn P phạm tội “Tàng trữ, vận chuyển trái phép vụ khí quân dụng”.
2. Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 304; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; các khoản 1, 2 và 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn P 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Văn P cho Ủy ban nhân dân xã Q, tỉnh Đắk Lắk, để giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo. Trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự năm 2019.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ hai lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy vật chứng, gồm: 01 (một) khẩu súng hơi có tổng chiều dài 82cm, ống giảm thanh, nòng súng màu xám, thân súng màu trắng bạc; tay cầm bằng nhựa màu xám xanh, có kích thước 10 x 6 cm; trên thân súng có gắn ống ngắm bằng kim loại màu đen dài khoảng 28cm, dưới ống ngắm có dòng chữ BOBCAT KING OPTICS 4-16X44, BK2403098; báng súng bằng kim loại màu nâu dài khoảng 29cm, bên ngoài báng súng có bọc sốp màu đen dài 16cm; bình khí nén màu đen, nhãn hiệu ALSAPE, đầu bình khí nén có dòng chữ và số USA18114193 (được niêm phong theo quy định) và 354 (ba trăm năm mươi bốn) viên đạn bằng kim loại hình nón, còn lại sau giám định (được niêm phong theo quy định).
(Vật chứng có đặc điểm cụ thể theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 28/01/2026, giữa Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Đ, Thi hành án dân sự tỉnh Đ và Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Đ).
- Tịch thu tiêu hủy đồ vật đã thu giữ của bị cáo, không có giá trị sử dụng là 01 (một) tấm vải màu xanh rằn ri và 01 sim điện thoại Viettel số sêri: 8984048000948025098.
- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước tài sản, công cụ liên quan đến tội phạm đã thu giữ của bị cáo Nguyễn Văn P gồm: 01 (một) điện thoại Iphone 15 Promax số IMEI 1: 350814292688231, số IMEI 2: 350814292717295 và 01 (một) máy bơm hơi nhãn hiệu NEW WARRIOR, kích thước 33 x 17 x 37cm.
(Vật chứng có đặc điểm cụ thể theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 28/01/2026, giữa Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Đắk Lắk và Thi hành án dân sự tỉnh Đắk Lắk).
- Chấp nhận việc Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Đ đã ra Quyết định xử lý đồ vật, tài sản trả lại cho những người liên quan các tài sản, gồm: Trả cho ông Lê Văn H1 01 xe ô tô biển kiểm soát 47A-347.88 và 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 064956 mang tên Lê Văn H1; trả lại cho ông Lê Văn N1 01 điện thoại Oppo A18 số IMEI 1: 863000061572273; số IMEI 2: 863000061572265 và 01 sim Viettel số seri: 8984048008818476432.
4. Về án phí: Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Nguyễn Văn P phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tối cao (Vụ 1); - VKSND tối cao; - VKSND tỉnh Đắk Lắk; - Công an tỉnh Đắk Lắk; - Cơ quan THAHS Công an tỉnh Đắk Lắk; - THADS tỉnh Đắk Lắk; - Bị cáo; đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Trương Công Bình |