- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Công V -Sử dụng trái phép chất ma tuý - sử dụng trái phép chất ma túy (điều 256a Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2025)"
- Tòa quyết gì? 1 Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bùi Công V phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 256a Bộ luật Hình sự; Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 15 - PHÚ THỌ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 37/2026/HS-ST Ngày: 20 - 03 - 2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 15 - PHÚ THỌ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Minh Giang.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Bùi Văn Ơn;
2. Ông Bùi Văn Thiệu.
- Thư ký phiên toà: Bà Quách Ngọc Mai - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 15 - Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 15 - Phú Thọ tham gia phiên toà: Bà Vũ Thị Linh Chi - Kiểm sát viên.
Ngày 20/03/2026, tại sở Toà án nhân dân khu vực 15 - Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 21/2026/TLST-HS ngày 11/02/2026; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 34/2026/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 03 năm 2026 đối với bị cáo:
Bùi Công V, sinh ngày 22/11/2005 tại xã M, tỉnh Phú Thọ. Nơi cư trú: Xóm C, xã M, tỉnh Phú Thọ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Mường; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn L, sinh năm 1980 và bà Đinh Thị B, sinh năm 1983; Bị cáo chưa có vợ, con.
Tiền án: Không;
Tiền sự: 01 tiền sự, ngày 05/3/2024, bị Tòa án nhân dân huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình (nay là Toà án nhân dân khu vực 15 – Phú Thọ) ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 06/QĐ-TA, chấp hành xong vào ngày 29/8/2025, chưa được xóa án tích.
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 19/12/2025 đến nay, được trích xuất có mặt tại phiên Toà.
- Người chứng kiến: Bùi Văn C, sinh năm 1982. Nơi cư trú: Xóm C, xã M, tỉnh Phú Thọ (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bùi Công V, sinh năm 2005, nơi thường trú: Xóm C, xã M, tỉnh Phú Thọ, hiện đang trong thời gian quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú theo Quyết định số 519/QĐ-UBND ngày 04/9/2025 của Chủ tịch UBND xã M trong thời gian từ ngày 03/9/2025 đến ngày 03/9/2027. Do bản thân là người nghiện ma tuý nên khoảng 19 giờ ngày 12/12/2025, V bắt xe khách từ nhà đi đến khu vực phường H, tỉnh Phú Thọ để mua ma túy cho bản thân sử dụng. Đến khoảng 20 giờ 00 phút cùng ngày, khi đến phường H, V xuống xe, sau đó đi bộ theo dọc đường thì nhìn thấy có một người đàn ông không quen biết, mặc quần áo màu đen, khoảng 40 tuổi. V đã hỏi mua được của người đàn ông này 01 gói ma túy loại Heroine với số tiền 200.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, V đi đến khu vực vắng người gần đó và sử dụng hết số ma túy trên bằng hình thức hít.
Đến khoảng 07 giờ 30 phút ngày 17/12/2025, Công an xã M, tỉnh Phú Thọ đã mời Bùi Công V đến trụ sở Công an xã M để làm việc do đang trong diện quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú. Tại đây, tổ công tác đã tiến hành test nhanh ma túy đối với V, kết quả thể hiện V dương tính với chất ma túy. Sau đó, Công an xã M tiến hành thu, niêm phong mẫu nước tiểu lập biên bản làm việc đối với V về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý.
Tại Kết luận giám định số 3847/KL-KTHS ngày 18/12/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Phú Thọ, kết luận về đối tượng giám định:
“ Trong dung dịch màu vàng (nước tiểu) trong lọ nhựa được dán giấy niêm phong có chữ ký ghi tên Bùi Công V gửi giám định tìm thấy chất ma túy, loại Morphine.
* Morphine là sản phẩm chuyển hóa của Heroine trong cơ thể.
* Morphine nằm trong Danh mục IIA, Số thức tự 55, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.
* Heroin (Heroine) nằm trong danh mục IA, số thứ tự: 09, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.”
*Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật: 01 (một) mẫu nước tiểu được niêm phong trong chai nhựa, một mặt có ghi “Mẫu nước tiểu thu giữ của Bùi Công V, sinh năm 2005. Nơi thường trú: xóm C, xã M, tỉnh Phú Thọ”. Trên đai niêm phong có chữ ký xác nhận của đối tượng cùng các thành phần tham gia niêm phong và dấu tròn đỏ của Công an xã M, tỉnh Phú Thọ; Cơ quan giám định đã sử dụng hết số mẫu trên.
Quá trình điều tra bị cáo Bùi Công V đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được. Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Bùi Công V ngày 12/12/2025 tại khu vực phường H, tỉnh Phú Thọ, do chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Phú Thọ tiếp tục xác minh, làm rõ.
Tại bản Cáo trạng số 55/CT-VKS ngày 10/02/2026, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 15 - Phú Thọ đã quyết định truy tố bị cáo Bùi Công V về tội: "Sử dụng trái phép chất ma túy" theo điểm b khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự.
Thực hành quyền công tố tại phiên toà, đại diện VKSND khu vực 15 – Phú Thọ, sau khi xem xét, đánh giá toàn bộ nội dung vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; trình bày quan điểm và luận tội: Giữ nguyên cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 256a của Bộ luật Hình sự tuyên bố bị cáo Bùi Công V phạm tội "Sử dụng trái phép chất ma túy".
Về hình phạt chính: Đề nghị HĐXX căn cứ điểm b khoản 1 Điều 256a; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Bùi Công V từ 24 tháng - 30 tháng tù.
Bị cáo Bùi Công V đồng ý với tội danh và điều luật mà Viện kiểm sát nhân dân khu vực 15 – Phú Thọ truy tố, không có ý kiến bào chữa, tranh luận và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Phú Thọ, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 15 - Phú Thọ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy: lời khai nhận tội của bị cáo Bùi Công V có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa phù hợp với các chứng cứ khác như: Biên bản thu mẫu giám định; Biên bản mở niêm phong và giao, nhận đối tượng giám định; Kết luận giám định số 3847/KL-KTHS ngày 18/12/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Phú Thọ; lời khai của người chứng kiến cùng các chứng cứ, tài liệu khác đã được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án. Do đó, đã có đủ cơ sở khẳng định: Bùi Công V là đối tượng nghiện chất ma tuý đã bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, hiện đang trong diện theo dõi, quản lý theo Quyết định quản lý sau cai nghiện ma tuý tại nơi cư trú số 519/QĐ-UBND ngày 04/9/2025 của Chủ tịch UBND xã M, tỉnh Phú Thọ trong thời gian từ ngày 03/9/2025 đến ngày 03/9/2027. Nhưng ngày 12/12/2025, Bùi Công V đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy tại địa phận phường H, tỉnh Phú Thọ. Ngày 17/12/2025, Bùi Công V bị tổ công tác Công an xã M, tỉnh Phú Thọ tiến hành gọi hỏi và test chất ma túy trong nước tiểu của Bùi Công V, kết quả trong nước tiểu dung dịch màu vàng (nước tiểu) trong lọ nhựa được dán giấy niêm phong có chữ ký ghi tên Bùi Công V gửi giám định tìm thấy chất ma túy, loại Morphine (Morphine là sản phẩm chuyển hóa của Heroine trong cơ thể). Vì vậy, việc bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân khu vực 15 – Phú Thọ truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Đồng thời có đủ cơ sở kết luận bị cáo Bùi Công V phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 256a của Bộ luật Hình sự.
Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý chất gây nghiện, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự, an toàn xã hội tại địa phương; là nguyên nhân làm phát sinh tội, tệ nạn xã hội khác. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đủ khả năng nhận thức được tính chất, mức độ sai trái do hành vi gây ra. Song vì là đối tượng nghiện ma tuý, nên bị cáo đã cố ý sử dụng trái phép chất ma tuý loại Heroine để thoả mãn cơn nghiện. Do vậy, bị cáo Bùi Công V phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về hành vi đã thực hiện.
Xét nguyên nhân, điều kiện phạm tội cho thấy: Do bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, nhằm thoả mãn cơn nghiện của bản thân nên đã sử dụng trái phép chất ma tuý loại Heroine là nguyên nhân, điều kiện chính dẫn tới hành vi phạm tội của bị cáo.
Xét nhân thân: Trước khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo chưa có tiền án, tiền sự.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo là người dân tộc thiểu số (dân tộc Mường), sinh sống tại vùng có điều kiện kinh – xã hội khó khăn. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo Bùi Công V không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và tình tiết cụ thể của vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải có một hình phạt nghiêm khắc tương xứng với tính chất, hành vi mà các bị cáo đã thực hiện. Do đó, việc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo cũng như đáp ứng mục đích đấu tranh phòng ngừa tội phạm trên địa bàn là cần thiết.
Đối với đối tượng đã bán ma túy tại phường H cho bị cáo Bùi Công V tài liệu điều tra thể hiện trong hồ sơ vụ án chưa đủ căn cứ xác định và tại phiên tòa bị cáo không khai báo thêm tình tiết mới. Do đó, Hội đồng xét xử không đề cập xử lý.
Về vật chứng vụ án: Quá trình điều tra, Cơ quan giám định đã sử dụng hết số mẫu giám định nên Hội đồng xét xử không đề cập xử lý.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 256a; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
1.1 Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bùi Công V phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
1.2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Bùi Công V 24 (hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giam 19/12/2025.
2. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo Bùi Công V phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
3. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo có mặt có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Phú Thọ; - VKSND tỉnh Phú Thọ; - CQCSĐT CA tỉnh Phú Thọ; - Phòng hồ sơ (PV06) CA tỉnh Phú Thọ; - THADS tỉnh Phú Thọ; - VKSND khu vực 15 - Phú Thọ; - PC 10, PC11 – Công an tỉnh Phú Thọ; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ + án văn. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Minh Giang |