vanban.org

Bản án 37/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thu Thủy.

Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thu Thủy được ly hôn với ông Phan Thanh Minh. Về con chung: Bà Nguyễn Thị Thu Thủy và ông Phan Thanh Minh có 01 con chung tên Phan Nguyễn Hải Đăng, sinh ngày 13/6/2020. Sau khi ly hôn, bà Thủy là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung cho đến khi con chung đủ 18 tu…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Thu T - Nguyễn Thanh M"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thu Thủy.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 1 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 7 – VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 37/2026/HNGĐ-ST
Ngày: 30-3-2026
V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Phạm Minh Thơ

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Thành Đông

Ông Phạm Thành Đồng

- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Thu Trúc - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 7 – Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hồng Thắm - Kiểm sát viên

Ngày 30 tháng 3 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 7 – Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 47/2026/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 02 năm 2026, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 63/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 3 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số 52/2026/QĐST-HNGĐ ngày 23 tháng 3 năm 2026, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thu Thủy, sinh năm 1995 (vắng mặt);

Địa chỉ: 167, ấp Tân Hòa, xã Tân Thanh, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre (nay là xã Hưng Nhượng, tỉnh Vĩnh Long).

2. Bị đơn: Ông Phan Thanh Minh, sinh năm 1992 (vắng mặt);

Địa chỉ: 167, ấp Tân Hòa, xã Tân Thanh, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre

(nay là xã Hưng Nhượng, tỉnh Vĩnh Long).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện; bản tự khai; đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt; các tài liệu, chứng cứ cung cấp cho Tòa án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thu Thủy trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Phan Thanh Minh quen biết, tìm hiểu, bắt đầu chung sống với nhau từ năm 2020, có tổ chức đám cưới. Ông bà tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tân Thanh, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre (nay là Ủy ban nhân dân xã Hưng Nhượng, tỉnh Vĩnh Long) vào ngày 10 tháng 3 năm 2020. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng sau đó bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, cách sinh hoạt dẫn đến việc ông bà thường xuyên cự cãi; tình cảm vợ chồng không còn, mạnh ai nấy sống, không ai quan tâm đến ai. Bà đã nhiều lần khuyên can, chủ động hòa giải nhưng ông Minh vẫn không thay đổi nên vợ chồng đã ly thân từ tháng 5 năm 2025 cho đến nay. Hiện tại, bà nhận thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn nên bà có đơn khởi kiện và giữ nguyên yêu cầu xin được ly hôn với ông Phan Thanh Minh.

- Về con chung: Bà và ông Minh có 01 người con chung tên Phan Nguyễn Hải Đăng, sinh ngày 13/6/2020. Sau khi ly hôn, bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu ông Minh cấp dưỡng nuôi con. Bà và ông Minh không có con riêng, không có con nuôi.

- Về tài sản chung, nợ chung: Trong thời gian chung sống, bà và ông Minh không có tài sản chung, không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân khu vực 7 – Vĩnh Long đã tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án; các Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa và các Giấy triệu tập nhưng bị đơn là ông Phan Thanh Minh đều vắng mặt không lý do.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Vĩnh Long phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự do không tham gia đầy đủ các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ, các phiên hòa giải.

Về nội dung vụ án: Căn cứ vào các điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án đề nghị Hội đồng xét xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thu Thủy.

- Về hôn nhân: Bà Thủy được ly hôn với ông Minh.

- Về con chung: Bà Thủy và ông Minh có 01 người con chung tên Phan Nguyễn Hải Đăng, sinh ngày 13/6/2020. Giao con chung cho bà Thủy tiếp tục nuôi dưỡng, ghi nhận bà Thủy không yêu cầu ông Minh cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung, nợ chung: Bà Thủy khai không có nên không xem xét giải quyết.

- Về án phí hôn nhân và gia đình: Bà Thủy phải chịu theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, căn cứ lời trình bày của đương sự trong quá trình giải quyết vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

- Về quan hệ pháp luật: Bà Nguyễn Thị Thu Thủy khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân khu vực 7 – Vĩnh Long giải quyết ly hôn, tranh chấp về việc nuôi con chung với ông Phan Thanh Minh. Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của bà Thủy xác định vụ án có quan hệ pháp luật “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

- Về thẩm quyền thụ lý, giải quyết của Tòa án: Ông Phan Thanh Minh là bị đơn có nơi cư trú tại 167, ấp Tân Hòa, xã Tân Thanh, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre (nay là xã Hưng Nhượng, tỉnh Vĩnh Long) nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 7 – Vĩnh Long theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 1 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025.

- Về việc vắng mặt của đương sự tại phiên tòa: Nguyên đơn bà Thủy vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn yêu cầu giải quyết, xét xử vắng mặt. Bị đơn ông Minh đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Căn cứ vào khoản 1 và điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà Thủy và ông Minh.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân:

- Bà Nguyễn Thị Thu Thủy và ông Phan Thanh Minh tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tân Thanh, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre (nay là Ủy ban nhân dân xã Hưng Nhượng, tỉnh Vĩnh Long) vào ngày 10/3/2020 nên quan hệ hôn nhân của bà Thủy và ông Minh là hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ.

- Trong quá trình chung sống, theo bà Thủy trình bày vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân chính là do ông Minh không quan tâm chăm lo cho cuộc sống cho gia đình, bà đã nhiều lần trao đổi, hòa giải nhưng ông Minh vẫn không thay đổi nên vợ chồng thường xuyên cải vã, từ đó bất đồng quan điểm trong cuộc sống. Bà và ông Minh không còn chung sống với nhau từ khoảng tháng 5 năm 2025 cho đến nay, hiện tại tình cảm vợ chồng không còn nữa. Bà Thủy có yêu cầu được giải quyết cho được ly hôn với ông Minh.

- Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân khu vực 7 – Vĩnh Long đã nhiều lần mời bà Thủy và ông Minh đến Tòa án tiến hành hòa giải nhằm hàn gắn nhưng bà Thủy xác định không còn tình cảm với ông Minh, kiên quyết xin ly hôn; ông Minh đều vắng mặt không có lý do.

Như vậy, trong quá trình chung sống, giữa bà Thủy và ông Minh đã có phát sinh mâu thuẫn, ông bà đã không còn yêu thương, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; không cùng nhau chia sẽ, thực hiện các công việc trong gia đình. Tòa án nhiều lần mời bà Thủy và ông Minh đến Tòa án tiến hành hòa giải nhằm hàn gắn nhưng bà Thủy xác định không còn tình cảm với ông Minh, kiên quyết xin ly hôn; ông Minh đều vắng mặt không có lý do, điều này thể hiện ông Minh đã bỏ mặc mối quan hệ hôn nhân giữa ông và bà Thủy. Mặt khác, bà Thủy và ông Minh đã sống ly thân thời gian dài nhưng đến nay cũng không hàn gắn được. Từ đó có đủ cơ sở khẳng định bà Thủy và ông Minh đã vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Thủy, bà Thủy được ly hôn với ông Minh.

[2.2] Về con chung:

- Bà Thủy và ông Minh chung sống với nhau có 01 con chung tên Phan Nguyễn Hải Đăng, sinh ngày 13/6/2020. Bà Thủy có yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung nên Hội đồng xét xử xét thấy để cho con chung của ông bà được ổn định về tâm lý, việc học tập, đồng thời phù hợp với nguyện vọng của con chung nên giao con chung của ông bà cho bà Thủy được tiếp tục, trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.

- Về việc cấp dưỡng cho con: Theo quy định tại khoản 2 Điều 82 và khoản 1 Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình thì bà Thủy có quyền yêu cầu ông Minh thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, tuy nhiên bà Thủy tự nguyện không yêu cầu ông Minh cấp dưỡng nuôi con chung nên ghi nhận.

[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Bà Thủy khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Đối với đề nghị của Kiểm sát viên về việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng và ý kiến đề nghị về việc giải quyết vụ án là phù hợp với quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Về án phí: Căn cứ quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Bà Nguyễn Thị Thu Thủy phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 và điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 và khoản 3 Điều 228; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 1 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025;

Căn cứ các điều 56, 57, 81, 82, 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thu Thủy.

1. Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thu Thủy được ly hôn với ông Phan Thanh Minh.

2. Về con chung: Bà Nguyễn Thị Thu Thủy và ông Phan Thanh Minh có 01 con chung tên Phan Nguyễn Hải Đăng, sinh ngày 13/6/2020. Sau khi ly hôn, bà Thủy là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Ghi nhận bà Thủy không yêu cầu ông Minh cấp dưỡng nuôi con.

Ông Phan Thanh Minh có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung mà không ai được quyền cản trở.

Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con chung.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Bà Thủy khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

5. Về án phí sơ thẩm:

Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng do bà Nguyễn Thị Thu Thủy phải nộp nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà bà Thủy đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0011618 ngày 09 tháng 12 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long. Bà Thủy đã nộp đủ án phí.

6. Về quyền kháng cáo:

Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai, nguyên đơn và bị đơn vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm có quyền kháng cáo bản án này để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ