vanban.org

Bản án 37/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Đình chỉ xét xử một phần yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị C, về việc yêu cầu ông Lê Minh Đ có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2,5 triệu đồng cho đến khi con thành niên và có khả năng lao động. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị C: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lê Thị C - Lê Minh Đ"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 15 – LÂM ĐỒNG,
TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 37 /2026/HNGĐ-ST
Ngày: 14 – 4 – 2026
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 15 – LÂM ĐỒNG, TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Đình Phú.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Quang;

2. Ông Lê Ngọc Thơm.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Ngọc Trà My – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 15 – Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 15 – Lâm Đồng, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc – Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 4 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 15 – Lâm Đồng, tỉnh Lâm Đồng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 233/2025/TLST-HNGĐ, ngày 03 tháng 11 năm 2025, về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2026/QĐXXST-HNGĐ, ngày 03 tháng 3 năm 2026, Quyết định hoãn phiên tòa số 20/2026/QĐST-HNGĐ, ngày 20 tháng 3 năm 2026, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Bà Lê Thị C, sinh ngày: 10/02/1990, căn cước công dân số: xxxxxxxxxxxx, địa chỉ: Khu phố H phường P, tỉnh Lâm Đồng.

- Bị đơn: Ông Lê Minh Đ, sinh ngày: 20/8/1990, căn cước công dân số: xxxxxxxxxxxx, địa chỉ: Khu phố A, phường P, tỉnh Lâm Đồng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 25/9/2025, và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là bà Lê Thị C trình bày:

Bà C và ông Lê Minh Đ sống chung với nhau như vợ, chồng từ năm 2009, nhưng đến năm 2015 mới thực hiện đăng ký kết hôn và được UBND phường P, thị xã L (cũ) cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 41 ngày 29/5/2015. Bà C và ông Đ có 03 người con chung là cháu Lê Thị Thanh T, sinh ngày: 13/8/2009, cháu Lê Minh T1, sinh ngày: 20/10/2017 và cháu Lê Tuấn A, sinh ngày: 01/4/2022.

Ban đầu cả hai thuê nhà trọ trên địa bàn thị xã L (cũ) và thường xuyên thay đổi chỗ ở, quá trình sống chung, ông Đ thường xuyên đánh bạc, có hành vi bạo lực gia đình đánh đập bà C, mặc dù sống chung nhưng cả hai đều không tìm được tiếng nói chung, thường xuyên cãi vã. Nhận thấy hôn nhân đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, chính vì vậy, bà C khởi kiện đề nghị Toà án giải quyết ly hôn với ông Lê Minh Đ; giao cháu Lê Thị Thanh T và cháu Lê Tuấn A cho bà C trực tiếp nuôi dưỡng, giao cháu Lê Minh T1 cho ông Đ trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Đ có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi cháu T và cháu Tuấn A mỗi tháng 2.500.000 đồng cho mỗi con chung. Không yêu cầu giải quyết về tài sản.

Trong quá trình giải quyết vụ án, bà C xác định cháu T và cháu T1 hiện đang sinh sống cùng với ông Đ, bản thân bà C hiện đang ở trọ, không dủ khả năng trực tiếp nuôi dưỡng các cháu nên bà C thay đổi yêu cầu khởi kiện về nuôi con, đề nghị giao cháu T và cháu T1 cho ông Đ trực tiếp nuôi dưỡng, giao cháu Tuấn A cho bà C trực tiếp nuôi dưỡng, không yêu cầu Tòa án giải quyết về vấn đề cấp dưỡng.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 15 – Lâm Đồng, tỉnh Lâm Đồng tại phiên tòa:

Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã tiến hành thụ lý, tống đạt các văn bản tố tụng, tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, đưa vụ án ra xét xử, chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, những người tiến hành tố tụng khác đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm.

Về nội dung vụ án: Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, có đủ cơ sở để xác định đời sống hôn nhân của bà C và ông Đ đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, đủ điều kiện để giải quyết ly hôn, trên cơ sở trình bày của các bên đương sự, kết quả xác minh của Tòa án, việc giao cháu Lê Tuấn A cho bà Lê Thị C trực tiếp nuôi dưỡng; giao cháu Lê Thị Thanh T và cháu Lê Minh T1 cho ông Lê Minh Đ trực tiếp nuôi dưỡng phù hợp. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà C, đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật, đình chỉ đối với yêu cầu cấp dưỡng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, kết quả tranh tụng và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 15 – Lâm Đồng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Bà Lê Thị C khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông Lê Minh Đ, giao cháu Lê Thị Thanh T và cháu Lê Tuấn A cho bà C trực tiếp nuôi dưỡng, giao cháu Lê Minh T1 cho ông Đ trực tiếp nuôi dưỡng, ông Đ có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi cháu T và cháu Tuấn A mỗi tháng 2.500.000 đồng cho mỗi con chung, không yêu cầu giải quyết về tài sản. Yêu cầu khởi kiện này đã được Tòa án thụ lý, tuy nhiên trong quá trình giải quyết vụ án, bà C đã thay đổi yêu cầu khởi kiện, đề nghị giao cháu Lê Tuấn A cho bà C trực tiếp nuôi dưỡng; giao cháu Lê Thị Thanh T và cháu Lê Minh T1 cho ông Đ trực tiếp nuôi dưỡng, việc thay đổi yêu cầu khởi kiện của bà C là trong vi khởi kiện ban đầu nên căn cứ khoản 2 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự, chấp nhận việc thay đổi yêu cầu khởi kiện của bà C.

Bà C rút yêu cầu đề nghị giải quyết về vấn đề cấp dưỡng, việc rút yêu cầu này của bà C là hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc, do vậy, Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử đối với yêu cầu cấp dưỡng theo quy định tại khoản 2 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự, đồng thời xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án là: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 14 Điều 3, Điều 81, Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình, khoản 1, khoản 5 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn ông Lê Minh Đ có nơi cư trú tại khu phố A, phường P, tỉnh Lâm Đồng nên thẩm quyền giải quyết vụ án là của Tòa án nhân dân khu vực 15 – Lâm Đồng, tỉnh Lâm Đồng theo quy định tại khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa, vắng mặt bà Lê Thị C và ông Lê Minh Đ, trong đó bà C có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, còn ông Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Chính vì vậy, Hội đồng xét xử áp dụng quy định tại khoản 2 Điều 227 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, xét xử vụ án vắng mặt những người tham gia tố tụng.

Bà C trình bày vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn chủ yếu do ông Đ thường xuyên đánh bạc, có hành vi bạo lực gia đình đánh đập bà C, cả hai đều không tìm được tiếng nói chung, thường xuyên cãi vã. Tại biên bản xác minh lập ngày 30/12/2025, thể hiện vợ chồng bà C và ông Đ không còn sinh sống cùng nhau. Ông Đ đã được Tòa án tống đặt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không đến Tòa án tham gia phiên họp, phiên tòa theo quy định là từ bỏ quyền và không thực hiện nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình quy định: “Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được”; khoản 3 Điều 4 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP, ngày 16/5/2024, của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao quy định: “Hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được” là thuộc một trong các trường hợp sau đây: Không có tình nghĩa vợ chồng, ví dụ: vợ, chồng không thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau; vợ, chồng sống ly thân, bỏ mặc vợ hoặc chồng”. Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử nhận thấy đời sống hôn nhân của bà C và ông Đ đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, đủ điều kiện để cho ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

Bà C trình bày hiện tại bà đang trực tiếp nuôi dưỡng cháu Tuấn A, còn ông Đ đang trực tiếp nuôi dưỡng cháu T và cháu T1. Bản thân bà C hiện đang phải thuê nhà trọ để cư trú, không đủ điều kiện để nuôi 03 cháu. Khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình quy định: “Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”, khoản 1 Điều 6 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP, ngày 16/5/2024, của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao quy định: “Khi xem xét “quyền lợi về mọi mặt của con” quy định tại khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình phải đánh giá khách quan, toàn diện các tiêu chí sau đây: a) Điều kiện, khả năng của cha, mẹ trong việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con, bao gồm cả khả năng bảo vệ con khỏi bị xâm hại, bóc lột; b) Quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi, được duy trì mối quan hệ với người cha, mẹ không trực tiếp nuôi; c) Sự gắn bó, thân thiết của con với cha, mẹ; d) Sự quan tâm của cha, mẹ đối với con; đ) Bảo đảm sự ổn định, hạn chế sự xáo trộn môi trường sống, giáo dục của con; e) Nguyện vọng của con được ở cùng với anh, chị, em (nếu có) để bảo đảm ổn định tâm lý và tình cảm của con; g) Nguyện vọng của con được sống chung với cha hoặc mẹ”. Trên cơ sở xem xét, đánh giá toàn diện, đẩy đủ trình bày của nguyên đơn, quy định của pháp luật, mặc dù cháu T và cháu T1 có nguyện vọng được sống chung với mẹ, tuy nhiên theo bà C xác định các cháu hiện đang sống cùng cha, bản thân bà C đang thuê trọ và không đủ điều kiện để nuôi các cháu. Để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu giải quyết về con chung của bà C.

Bà Lê Thị C phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

- Khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, Điều 228, Điều 235, Điều 238, khoản 2 Điều 244, Điều 266, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình.

- Khoản 3 Điều 4, khoản 1 Điều 6 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP, ngày 16/5/2024, của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao, hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình.

- Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Đình chỉ xét xử một phần yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị C, về việc yêu cầu ông Lê Minh Đ có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2,5 triệu đồng cho đến khi con thành niên và có khả năng lao động.

2. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị C:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị C ly hôn với ông Lê Minh Đ.

- Về con chung: Giao cháu Lê Tuấn A, sinh ngày: 01/4/2022 cho bà Lê Thị C trực tiếp nuôi dưỡng; giao cháu Lê Thị Thanh T, sinh ngày: 13/8/2009 và cháu Lê Minh T1, sinh ngày: 20/10/2017 cho ông Lê Minh Đ trực tiếp nuôi đưỡng.

Bà Lê Thị C và ông Lê Minh Đ có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con, khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

3. Về án phí và xử lý tạm ứng án phí: Bà Lê Thị C phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại Thi hành án dân sự tỉnh Lâm Đồng theo Biên lai thu số 0006792, ngày 28/10/2025.

4. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ