- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vương Thị D-TRan van d"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 191 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 – ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 37/2026/HNGĐ-ST Ngày 05-6-2026 “V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Cao Anh Tuấn.
- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Chinh và ông Lê Đăng Huấn.
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hạnh – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 10 - Đắk Lắk.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 – Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Giản Thị Chung – Kiểm sát viên.
Ngày 05/6/2026, tại phòng xử án Toà án nhân dân khu vực 10 – Đắk Lắk mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 213/2025/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 12 năm 2025, về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2026/QĐST- HNGĐ ngày 04/5/2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Vương Thị D, sinh năm 1990; địa chỉ: Thôn F, xã E, tỉnh Đắk Lắk. (có đơn xét xử vắng mặt)
- Bị đơn: Ông Trần Văn Đ, sinh năm 1980; địa chỉ: Thôn I, xã P, tỉnh Đắk Lắk. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo nội dung đơn khởi kiện và các lời khai tại các buổi làm việc, nguyên đơn bà Vương Thị D trình bày:
- Tôi và ông Trần Văn Đ có đăng ký kết hôn trên tinh thần tự nguyện tại UBND xã P, huyện K, tỉnh Đắk Lắk (Nay là UBND xã P, tỉnh Đắk Lắk) vào ngày 14/01/2009. Trong quá trình chung sống, thì vợ chồng chung sống hạnh phúc thời gian đầu, đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do ông Đ thường xuyên chửi bới, xúc phạm đánh đập tôi do đó tình cảm vợ chồng ngày càng đi xuống, đến cuối năm 2017 thì vợ chồng sống ly thân từ thời gian đó cho đến nay. Đến nay mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống hôn nhân không thể kéo dài. Mục đích hôn nhân không đạt được. Xét thấy tình cảm không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với ông Trần Văn Đ.
Về con chung: Chúng tôi có 02 con chung là cháu Trần Vương Bảo K, sinh ngày 04/02/2016 và cháu Trần Vương Bảo K1, sinh ngày 01/5/2013. Đối với cháu Trần Vương Bảo K hiện nay cháu đang ở với tôi và tôi có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu khôi cho đến khi đủ 18 tuổi. Đối với cháu Trần Vương Bảo K1, sinh ngày 01/5/2013 thì cháu đang ở với ông Trần Văn Đ, do đó tôi đồng ý giao cháu Trần Vương Bảo K1, sinh ngày 01/5/2013 cho ông Trần Văn Đ trực tiếp, nuôi dưỡng, chăm sóc cháu K1 cho đến khi đủ 18 tuổi.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Không yêu cầu ông Trần Văn Đ cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ông Trần Văn Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không đến Tòa án để tham gia tố tụng. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 – Đắk Lắk phát biểu ý kiến về tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa chấp hành đúng quy định pháp luật kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án. Bị đơn không chấp hành đúng quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, cho bà Vương Thị D được ly hôn với ông Trần Văn Đ. Về con chung: Giao con chung là cháu Trần Vương Bảo K, sinh ngày 04/02/2016 cho bà Vương Thị D trực tiếp, chăm sóc con chung cho đến khi đủ 18 tuổi; Giao con chung là cháu Trần Vương Bảo K1, sinh ngày 01/5/2013 cho ông Trần Văn Đ trực tiếp, chăm sóc con chung cho đến khi đủ 18 tuổi. Về cấp dưỡng tiền nuôi con chung: Bà D không yêu cầu cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Về khởi kiện và thụ lý vụ án: Tòa án thụ lý việc khởi kiện của bà Vương Thị D là đúng trình tự thủ tục theo Điều 191, Điều 195 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về thẩm quyền giải quyết: Đây là quan hệ pháp luật tranh chấp về hôn nhân và gia đình theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án và tranh chấp này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 10 – Đắk Lắk theo quy định tại Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về trình tự thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ bị đơn ông Trần Văn Đ nhưng ông Đ không chấp hành theo giấy triệu tập, không lên Tòa án để làm việc. Ngày 20/5/2026 Tòa án đưa vụ án ra xét xử, mặc dù đã được triệu tập hợp lệ nhưng bị đơn vắng mặt nên phải hoãn phiên tòa và ấn định xét xử lại ngày 05/6/2026 nhưng bị đơn vắng mặt lần thứ hai không có lý do, nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp với khoản 2 điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Hội đồng xét xử xét thấy, bà Vương Thị D và ông Trần Văn Đ có đăng ký kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, vào ngày 14/01/2009 tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện K, tỉnh Đắk Lắk (Nay là UBND xã P, tỉnh Đắk Lắk) là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống thì vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung nên vợ chồng thường xuyên cãi nhau vì những lý do nhỏ nhặt, đến năm 2017 thì vợ chồng sống ly thân từ thời gian đó cho đến nay. Qua quá trình xác minh tại chính quyền địa phương thì Ủy ban nhân dân xã P xác định vợ chồng ông Trần Văn Đ và bà Vương Thị D có xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân cụ thể như thế nào thì chính quyền địa phương không biết, hiện nay vợ chồng ông Đ, bà D sống ly thân từ năm 2017 cho đến nay. Như vậy, Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa bà Vương Thị D và ông Trần Văn Đ đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cho bà Vương Thị D và ông Trần Văn Đ ly hôn là phù hợp với Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Ông Trần Văn Đ và bà Vương Thị D có 02 con chung là cháu Trần Vương Bảo K, sinh ngày 04/02/2016 và cháu Trần Vương Bảo K1, sinh ngày 01/5/2013. Hiện nay, cháu Trần Vương Bào K2, sinh ngày 04/02/2016 đang ở với mẹ và cháu có nguyện vọng ở với mẹ nên giao cháu Trần Vương Bào K2, sinh ngày 04/02/2016 cho bà Vương Thị D trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc cho đến khi đủ 18 tuổi; Đối với cháu Trần Vương Bảo K1, sinh ngày 01/5/2013 hiện nay đang ở với bố, và cháu cũng có nguyện vọng ở với bố nên cần giao cháu Trần Vương Bảo K1, sinh ngày 01/5/2013 cho ông Trần Văn Đ trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi là phù hợp.
Về cấp dưỡng tiền nuôi con chung: Bà Vương Thị D không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng tiền nuôi con chung nên không đặt ra xem xét giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà Vương Thị D không yêu cầu, nên HĐXX không xem xét giải quyết.
Về án phí: Bà Vương Thị D phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28; Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 144, 147, 191, 195; khoản 2 điều 227; khoản 1 điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Căn cứ khoản 1 Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Bà Vương Thị D được quyền ly hôn với ông Trần Văn Đ.
2. Về con chung: Giao con chung là cháu Trần Vương Bảo K, sinh ngày 04/02/2016 cho bà Vương Thị D trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc con chung cho đến khi con chung đủ 18 tuổi; Giao con chung là Trần Vương Bảo K1, sinh ngày 01/5/2013 cho ông Trần Văn Đ trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc con chung cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.
Về cấp dưỡng tiền nuôi con chung: Bà Vương Thị D không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng tiền nuôi con chung nên không đặt ra xem xét giải quyết.
Ông Trần Văn Đ, bà Vương Thị D được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung và công nợ chung: Bà Vương Thị D không yêu cầu, nên HĐXX không xem xét giải quyết.
4. Về án phí: Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 nghị quyết số 326/2016/UBTVQH12 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Bà Vương Thị D phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm được khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0004733 ngày 21/11/2025 tại Phòng thi hành án dân sự khu vực 10 – Đắk Lắk.
Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đăk Lăk; - VKSND tỉnh Đắk Lắk; - VKSND khu vực 10 – Đắk Lắk; - UBND xã Krông Năng; - Phòng THA dân sự khu vực 10 – Đắk Lắk; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ, Vp. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký ) Cao Anh Tuấn |