vanban.org

Bản án 37/2025/HSST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 1 - Cà Mau, tỉnh Cà Mau Tuyên án 10/09/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lâm Ngọc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Lâm Ngọc T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16/6/2025. Án phí hình sự sơ thẩm, bị cáo Lâm Ngọc T phải chịu 200.000 đồng (chưa nộp). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lâm Ngọc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 1 - CÀ MAU
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 37/2025/HSST
Ngày 10 - 9 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Lê Thị Thu.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Vũ Thị Mỹ Linh;

Ông Bùi Đức Thắng.

- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Ông Trần Đình Chưởng, là Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Cà Mau, tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 - Cà Mau tham gia phiên toà: Bà Trần Mỹ Hương - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Cà Mau xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 27/2025/TLST-HS ngày 22 tháng 8 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 664/2025/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 8 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lâm Ngọc T (tên gọi khác: Ba Ch), sinh ngày 15/8/1984. Nơi cư trú: khóm N, phường H, thành phố B (nay là phường B), tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: thợ sơn; trình độ học vấn: 4/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lâm Ngọc H và bà Nguyễn Thị Thu Tr; vợ: Tăng Thị Mỹ Q, con: 02 người; tiền án: không. Tiền sự: 02 lần.

- Quyết định xử phạt hành chính số 159/QĐ-XPHC ngày 19/12/2024 của Công an huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu xử phạt Lâm Ngọc T số tiền 5.000.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy vào ngày 21/10/2024; đến ngày 23/10/2024, tiếp tục có hành vi tàng trữ 0,08381 gam chất ma túy loại Heroine, mục đích để sử dụng tại ấp Phước Thạnh 1, xã Long Thạnh, huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu. Đã nộp phạt ngày 17/01/2025.

- Quyết định xử phạt hành chính số 161/QĐ-XPHC ngày 19/12/2024 của Công an huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu xử phạt Lâm Ngọc T số tiền 3.500.000 đồng về hành vi tàng trữ 0,04325 gam chất ma túy loại Heroine, mục đích để sử dụng vào ngày 28/10/2024 tại ấp Tân Long, xã Long Thạnh, huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu. T đã nhận Quyết định vào hồi 10 giờ 20 phút ngày 20/12/2024.

Về nhân thân:

- Tại Bản án số 32/2009/HSST ngày 22/7/2009 của Tòa án nhân dân huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu tuyên phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Bản án số 152/2009/HSPT ngày 29/12/2009 của Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu tuyên Lâm Ngọc T không phạm tội do sửa đổi, bổ sung một số điều luật của Bộ luật Hình sự.

- Quyết định số 472/QĐXP-UB ngày 19/11/2009, Ủy ban nhân dân thị xã Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu về việc đưa người nghiện ma túy vào cơ sở chữa bệnh cai nghiện bắt buộc thời gian 24 tháng vì có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Chấp hành xong ngày 04/11/2009.

- Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 133F/QĐ-XPHC ngày 04/6/2012 của Công an huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu xử phạt 2.000.000 đồng. Nộp phạt ngày 20/8/2012.

- Bản án số 29/2014/HSST ngày 04/4/2014 của Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu tuyên phạt 03 tháng 23 ngày bằng thời hạn tạm giam về tội “Trộm cắp tài sản”. Nộp án phí ngày 15/5/2014.

- Bản án số 117/2014/HSST ngày 20/11/2014 của Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu tuyên phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành án xong hình phạt ngày 02/5/2015, nộp án phí ngày 05/01/2015.

- Bản án số 06/2016/HSST ngày 07/3/2016 của Tòa án nhân dân huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu tuyên phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 03/5/2016, chấp hành xong hình phạt, đến ngày 19/8/2016 đã nộp án phí.

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 16/6/2025 cho đến nay (Bị cáo có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 20 giờ 30 phút ngày 30/12/2024, tại khóm 4, phường 7, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau, lực lượng Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế - ma túy Công an thành phố Cà Mau kết hợp với Tổ tuần tra 21 Công an tỉnh Cà Mau và Công an phường 7, thành phố Cà Mau bắt quả tang Nguyễn Đăng K, sinh ngày 09/10/1983 đang điều khiển xe mô tô biển số 94K1-214.01 chở Lâm Ngọc T ngồi phía sau tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ 01 bọc nilon màu trắng bên trong có chứa tinh thể màu trắng (nghi là ma túy) được cất giấu trong gói thuốc lá hiệu Scott để trong túi quần của T được niêm phong trong phong bì theo quy định, ký hiệu M10/2025.

Tại biên bản thử nước tiểu phát hiện nhanh chất ma túy lúc 22 giờ 20 phút ngày 30/12/2024 tại Công an phường 7, thành phố Cà Mau thể hiện Nguyễn Đăng K có sử dụng chất ma túy.

Tại biên bản thử nước tiểu phát hiện nhanh chất ma túy lúc 00 giờ 15 phút ngày 31/12/2024 tại Công an phường 7, thành phố Cà Mau thể hiện Lâm Ngọc T có sử dụng chất ma túy.

Tại Kết luận giám định số 730/KL-KTHS ngày 07/01/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cà Mau, kết luận:

Tinh thể màu trắng bên trong bọc nilon màu trắng, được niêm phong trong phong bì hình chữ nhật ký hiệu M.10/2025 gửi giám định là ma túy có khối lượng 0,0254 gam, loại Methamphetamine.

Hoàn lại đối tượng giám định:

- Không hoàn lại mẫu ký hiệu M.10/2025 sau khi giám định (hết mẫu).

- Hoàn lại toàn bộ bao gói niêm phong mẫu vật gửi giám định.

Tất cả được niêm phong trong phong bì hoàn mẫu số 730/KL-KTHS ngày 07/01/2025.

Tại cáo trạng số: 21/CT-VKS ngày 21/8/2025 Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 – Cà Mau truy tố bị cáo Lâm Ngọc T về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm a khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 – Cà Mau thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với Lâm Ngọc T theo cáo trạng số: 21/CT-VKS ngày 21/8/2025 và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; căn cứ điểm a khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo từ 01 năm 09 tháng đến 02 năm 03 tháng tù. Vật chứng, án phí xử lý theo quy định.

Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Trong quá trình điều tra, truy tố, bị cáo không khiếu nại gì về các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên. Hội đồng xét xử xét thấy các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố là hợp pháp, được thực hiện đúng theo trình tự, thủ tục của Bộ luật tố tụng hình sự quy định.

Bị cáo Lâm Ngọc T đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy chưa hết thời hạn được coi là không có tiền sự. Đến 20 giờ 30 phút ngày 30/12/2024, tại khóm 4, phường 7, thành phố Cà Mau (nay là khóm 30, phường Tân Thành), tỉnh Cà Mau, bị cáo Lâm Ngọc T cùng với Nguyễn Đăng K có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy với khối lượng 0,0254 gam, loại Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng thì bị bắt quả tang cùng tang vật. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang và các chứng cứ khác đã thu thập được trong quá trình điều tra, phù hợp với kết luận giám định.

Hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý của bị cáo đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, xâm phạm trật tự an toàn xã hội. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức và biết được tác hại của ma tuý nhưng bị cáo vẫn thực hiện tội phạm với lỗi cố ý trực tiếp, bị cáo có nhân thân xấu. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 – Cà Mau truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm a khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự là có căn cứ.

Xét tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội cho thấy, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội bởi chính tác hại của ma tuý sẽ làm ảnh hưởng đến sức khỏe, gián tiếp gây ra các tệ nạn xã hội khác. Do đó, cần xử lý nghiêm hành vi phạm tội của bị cáo nhằm răn đe và phòng ngừa chung trong toàn xã hội.

Tuy nhiên, quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự cho bị cáo là phù hợp.

Về vật chứng của vụ án:

- Một phong bì hoàn mẫu số 730/KL-KTHS ngày 07/01/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cà Mau. Xét thấy, vật chứng trên cần được tiếp tục lưu giữ theo hồ sơ vụ án là phù hợp.

Đối với Nguyễn Đăng K không có tiền án, tiền sự và tàng trữ 0,0254 gam ma túy loại Methamphetamine nên hành vi của K không cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Cơ quan điều tra đã chuyển cơ quan có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp.

Đối với lượng ma túy Nguyễn Đăng K và bị cáo khai nhận mua của một người phụ nữ không rõ họ tên, địa chỉ trong hẻm Bình Minh, thuộc khóm 2, phường 8, thành phố Cà Mau (nay là phường Lý Văn Lâm), tỉnh Cà Mau. Do chưa xác định được nhân thân của đối tượng nên Cơ quan điều tra chưa làm việc được. Giao Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ nếu có căn cứ xử lý sau.

Về án phí, bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Lâm Ngọc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Lâm Ngọc T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16/6/2025.

- Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Án phí hình sự sơ thẩm, bị cáo Lâm Ngọc T phải chịu 200.000 đồng (chưa nộp).

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ