- Tranh chấp gì? án hình sự — "Dương Văn T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Dương Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG TỈNH TUYÊN QUANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 37/2025/HS-ST Ngày 25/3/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Mai Thị Huệ
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ma Quốc Thể và ông Phạm Văn Vượng
- Thư ký phiên toà: Bà Ma Thị Vân Kiều - Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Sơn Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Thành Thuỵ - Kiểm sát viên.
Ngày 25/3/2025, tại Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 40/2025/TLST- HS ngày 28 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 33/2025/QĐXXST-HS, ngày 11 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:
Dương Văn T, sinh ngày 17/4/1972 tại huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang.
Nơi cư trú: Thôn Đ, xã H, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Dao; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương Văn Lưu (đã chết) và bà Vũ Thị Liên (đã chết); vợ Nguyễn Thị Lụa, sinh năm 1977 (đã ly hôn); con có 01 con, sinh năm 1994;
Tiền án: Không.
Tiền sự: Quyết định áp dụng biên pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 03/2023/QĐ-TA ngày 06/01/2023 của Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên. Thời gian chấp hành là 16 tháng kể từ ngày 09/12/2022 (đã chấp hành xong ngày 09/4/2024).
Nhân thân:
- Bản án số 42/HSST ngày 10/10/2003 của Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp T sản, phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng. Đã chấp hành xong toàn bộ bản án.
- Bản án số 89/HSST ngày 28/12/2004 của Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang xử phạt 03 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng. Đã chấp hành xong toàn bộ bản án.
- Bản án số 50/HSST ngày 15/05/2008 của Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang xử phạt 07 năm 06 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy, phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng. Đã chấp hành xong toàn bộ bản án.
- Bản án số 69/HSST ngày 30/8/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng và tiền phạt 7.300.000 đồng. Đã chấp hành xong toàn bộ bản án.
- Bản án số 57/HSST ngày 03/9/2020 của Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 02 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng. Ngày 25/01/2022 đã chấp hành xong toàn bộ bản án.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/01/2025 đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Tuyên Quang (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các T liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ ngày 12/01/2025, Dương Văn T, sinh năm 1972, cư trú tại thôn Đồng Diễn, xã Hợp Thành, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang đi xe ôm từ nhà đến khu vực xã Phú Xuyên, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên, mục đích tìm mua ma túy về sử dụng. Đến nơi, T gặp một người đàn ông (không xác định tên, tuổi và địa chỉ cụ thể) và mua của người này 02 gói ma túy (trong đó 01 gói nilon màu xanh và 01 gói nilon màu vàng) bên trong cả hai gói đều chứa chất bột vón cục màu trắng với số tiền 500.000 đồng. Sau đó T tìm chỗ vắng người tại khu vực xã Phú Xuyên lấy ra một ít ma túy trong 01 gói ra để sử dụng (do trời tối nên T không xác định được gói màu gì), số ma túy còn lại T gói lại và cất giấu vào trong người rồi đón xe ôm về. Khoảng 21 giờ 20 phút cùng ngày, khi T đến đoạn đường thuộc thôn Đồng Diễn, xã Hợp Thành, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang, xuống xe đi bộ về nhà thì gặp Tổ công tác Công an huyện Sơn Dương đang làm nhiệm vụ và phát hiện lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang hồi 21 giờ 20 phút cùng ngày, thu giữ của T 01 gói nilon màu vàng và 01 gói nilon màu xanh bên trong cả 2 gói có chứa chất bột vón cục màu trắng; 01 điện thoại di động Iphone XS MAX bên trong lắp sim số 0982175622.
Tiến hành xét nghiệm tìm chất ma túy đối với Dương Văn T, kết quả dương (+) tính với chất ma túy.
Kết luận giám định số 175/KL-KTHS ngày 16/01/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang, kết luận: Số chất bột màu trắng có trong 02 gói thu giữ của Dương Văn T gửi giám định ngày 13/01/2025 là chất ma túy, loại Heroin, khối lượng 0,499g (không phẩy bốn chín chín gam).
Về vật chứng: Quá trình điều tra. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Sơn Dương thu giữ 02 gói ma túy được niêm phong trong 01 phong bì đã giám định ngày 13/01/2025; 01 điện thoại di động Iphone XS MAX bên trong lắp sim số 0982175622.
Cáo trạng số 46/CT-VKSSD ngày 27/02/2025 Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương đã truy tố Dương Văn T về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị HĐXX:
- Tuyên bố: Bị cáo Dương Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Dương Văn T từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam 12/01/2025. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong còn nguyên vẹn, bên trong có chứa chất ma túy (đã giám định) mặt sau trên các mép dán có chữ ký của Dương Văn T các thành phần tham gia và hình dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang; trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động Iphone XS MAX bên trong lắp sim số 0982175622 nhưng giữ lại để đảm bảo thi hành án.
- Về án phí và quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 136, 331 và 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Kết thúc phần tranh luận, bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các T liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Quá trình khởi tố, điều tra, truy tố các Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn khi thực hành quyền công tố. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Dương Văn T tiếp tục khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra. Hành vi phạm tội của bị cáo còn được chứng minh bằng: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; vật chứng thu giữ; kết luận giám định cùng các T liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hồi 21 giờ 20 ngày 12/01/2025, tại thôn Đồng Diễn, xã Hợp Thành, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang. Dương Văn T, cư trú tại thôn Đồng Diễn, xã Hợp Thành, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang đã có hành vi Tàng trữ trái phép 0,499g (Không phẩy bốn chín chín gam) ma túy loại Heroin để sử dụng cho bản thân.
Bị cáo Dương Văn T là người có năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi tàng trữ ma tuý của bị cáo thực hiện với lỗi cố ý, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý; số ma túy loại Heroin mà bị cáo tàng trữ trái phép có khối lượng 0,499g (Không phẩy bốn chín chín gam). Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên Hội đồng xét xử áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt: Bị cáo có 01 tiền sự, bị cáo có nhân thân xấu, đã 05 lần bị xét xử về tội trộm cắp T sản, tàng trữ trái phép ma tuý, mua bán trái phép chất ma tuý nhưng bị cáo vẫn phạm tội, hành vi phạm tội của bị cáo đã gây mất trật tự trị an tại địa phương, làm ảnh hưởng đến phong trào đấu tranh phòng, chống tội phạm và tệ nạn ma tuý trên địa bàn huyện Sơn Dương. Do vậy, cần buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ trong một thời hạn nhất định nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung. Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo; khối lượng ma tuý mà bị cáo tàng trữ, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được áp dụng đối với bị cáo, Hội đồng xét xử thấy mức án mà Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp nên chấp nhận.
Bị cáo là lao động tự do, không có tài sản có giá trị. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Đối với người đàn ông bán ma túy cho Dương Văn T, tại khu vực xã Phú Xuyên, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên. Do không xác định được tên, tuổi và địa chỉ nên không có căn cứ điều tra, xử lý.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Dương Văn T vào ngày 12/01/2025, tại khu vực xã Phú Xuyên, huyện Đại Từ. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Sơn Dương đã ra chuyển T liệu liên quan đến Trưởng Công an huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên để xử phạt vi phạm hành chính theo quy định.
Về vật chứng: Khối lượng ma túy còn lại (sau khi giám định) là vật chứng của vụ án thuộc loại Nhà nước cấm lưu hành, cần tịch thu tiêu hủy.
Về chiếc điện thoại di động Iphone XS MAX bên trong lắp sim số 0982175622 do không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo.
Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Dương Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Xử phạt bị cáo Dương Văn T 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam (12/01/2025).
2. Về vật chứng:
Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì đã niêm phong còn nguyên vẹn, bên trong có chứa ma túy (đã giám định), đặc điểm, tình trạng, khối lượng được miêu tả trong biên bản mở niêm phong và giao nhận đối tượng giám định. Bên ngoài, mặt sau trên các mép dán có hình dấu niêm phong của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang, chữ ký xác nhận của thành phần tham gia niêm phong và Dương Văn T; mặt trước phong bì ghi “Tang vật vụ Dương Văn T giám định ngày 13/01/2025”.
- Trả lại cho bị cáo Dương Văn T 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS MAX, số máy MTSX2LL/A; số seri: G6TYFK0KKPHF bên trong lắp sim số 0982175622, máy cũ đã qua sử dụng nhưng giữ lại để đảm bảo thi hành án.
Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Sơn Dương và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sơn Dương ngày 27/02/2025.
3. Về án phí và quyền kháng cáo:
Căn cứ khoản 2 Điều 136; khoản 1 Điều 331, khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Bị cáo Dương Văn T phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Dương Văn T được quyền kháng cáo bản án trong hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Tuyên Quang;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND tỉnh Tuyên Quang;
- Sở Tư pháp tỉnh Tuyên Quang;
- VKSND huyện Sơn Dương;
- Công an tỉnh Tuyên Quang;
- Chi cục T.H.A dân sự huyện Sơn Dương;
(đã ký)
- UBND xã Hợp Thành, huyện Sơn Dương;
- Bị cáo;
- Lưu.
Mai Thị Huệ
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG
THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ma Quốc Thể Phạm Văn Vượng
Mai Thị Huệ
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tuyên Quang; - VKSND tỉnh Tuyên Quang; - Sở Tư pháp tỉnh Tuyên Quang; - VKSND huyện Sơn Dương; - Công an tỉnh Tuyên Quang; - Chi cục T.H.A dân sự huyện Sơn Dương; - UBND xã Hợp Thành, huyện Sơn Dương; - Bị cáo; - Lưu. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG Ma Quốc Thể Phạm Văn Vượng | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Mai Thị Huệ THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Mai Thị Huệ |