- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Lê Anh T 08 (Tám) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ,…"
- Tòa quyết gì? Xử phạt: Bị cáo Lê Anh T 08 (Tám) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 23/12/2024.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐAN PHƯỢNG THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 37/2025/HS-ST Ngày: 28 - 4 - 2025. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐAN PHƯỢNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Doãn Văn Tuyến.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Việt Cường
Ông Đỗ Xuân Trường.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọt - Thẩm tra viên chính Tòa án nhân dân huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thúy Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 33/2025/TLST-HS ngày 09 tháng 4 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 50/2025/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 4 năm 2025, đối với:
- Bị cáo: Lê Anh T, sinh năm 1994 tại thành phố Hà Nội; HKTT và nơi cư trú: Thôn Đ, xã Đ, huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn Ngoạn và bà Lê Thị Cúc; có vợ và có 03 con, con lớn sinh năm 2013, con nhỏ sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: Không; danh bản, chỉ bản số 404 lập ngày 26/12/2024 của Công an huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/12/2024 đến nay; có mặt.
- Người làm chứng: Anh Bùi Văn Công, sinh năm 1991; nơi cư trú: Cụm 5, xã Đan Phượng, huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 23 giờ 50 phút ngày 22/12/2024, tại Thôn Đ, xã Đ, huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội, tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Hình sự - Kinh tế - Ma túy Công an huyện Đan Phượng phát hiện Lê Anh T (sinh năm 1994 ở Thôn Đ, xã Đ, huyện Đan Phượng) có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành kiểm tra hành chính. Quá trình kiểm tra, Tổ công tác phát hiện và thu giữ ở tay trái của Thế 01 túi ni lông màu trắng trong kích thước khoảng 4 x 0,5cm, bên trong có 03 túi ni lông màu trắng trong, kích thước mỗi túi khoảng 2 x 2,5cm, bên trong 03 túi ni lông này đều chứa tinh thể màu trắng (mẫu M1). Phát hiện và thu giữ trong túi áo ngực phía trong, bên trái Thế đang mặc 01 túi ni lông màu trắng trong, kích thước khoảng 9 x 13cm bên trong có 18 túi ni lông màu trắng trong, kích thước mỗi túi khoảng 2 x 2,5cm đều chứa tinh thể màu trắng và 01 túi ni lông màu trắng trong, kích thước khoảng 4 x 5cm, bên trong chứa 24 viên nén hình tròn màu hồng, một mặt mỗi viên nén in chữ “WY” và 02 viên nén hình tròn màu xanh (mẫu số 02). Ngay tại nơi kiểm tra, Thế khai nhận tinh thể màu trắng và các viên nén hình tròn nêu trên là ma tuý “Đá” và ma tuý “Ngựa”, Thế cất giấu để bán cho khách nhưng chưa kịp bán thì bị Cơ quan Công an phát hiện bắt giữ. Ngoài ra, còn thu giữ của Thế 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax màu xanh đã qua sử dụng, bên trong lắp số sim 0378.295.992.
Ngày 23/12/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đan Phượng đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Lê Anh T tại Thôn Đ, xã Đ, huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội đã phát hiện và thu giữ các đồ vật, tài sản gồm: Thu giữ trong ngăn kéo tủ trong phòng khách tầng một, 01 túi ni lông màu xanh - đen, miệng túi có viền kẻ màu đỏ kích thước khoảng 6,5 x 9cm, bên trong có 10 viên nén hình tròn màu xanh, đường kính mỗi viên đều khoảng 0,5cm, một mặt của mỗi viên đều có chữ Y1 (mẫu số 03).
Tại bản Kết luận giám định số 27A/KL-KTHS, ngày 01/01/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hà Nội, kết luận:
- “...Mẫu ký hiệu M1: Tinh thể màu trắng bên trong 03 túi ni lông đều là ma tuý loại Methaphetamine, tổng khối lượng: 0,565 gam.
- Mẫu ký hiệu M2: Tinh thể màu trắng bên trong 18 túi ni lông đều là ma tuý loại Methaphetamine, tổng khối lượng: 2,234 gam; 24 viên nén hình tròn màu hồng, một mặt của mỗi viên đều in chữ “WY” đều là ma tuý loại Methaphetamine, tổng khối lượng: 2,234 gam; 02 viên nén hình tròn màu xanh, đều là ma tuý loại Methaphetamine, tổng khối lượng: 0,194 gam.
- Mẫu ký hiệu M3: 10 viên nén hình tròn màu xanh, một mặt của mỗi viên đều in chữ “Y1” đều là ma tuý loại Methaphetamine, tổng khối lượng: 0,963 gam...”
Quá trình điều tra đã xác định: Khoảng 23 giờ 00 phút ngày 22/12/2024, Lê Anh T đang ở nhà thì nhận được cuộc gọi của một người nam giới không quen biết có số điện thoại là 0899576356 gọi vào số điện thoại 0378.295.882 của Thế và hỏi mua 1.000.000 đồng ma tuý “Đá”. Do đang có sẵn ma tuý “Đá” nên Thế đồng ý và hẹn đến khu vực bờ giếng gần đầu ngõ nhà mình thuộc Thôn Đ, xã Đ, huyện Đan Phượng để giao ma tuý và nhận tiền. Sau đó, Thế mang theo 03 túi ni lông màu trắng bên trong chứa 0,565 gam Methaphetamine, 18 túi ni lông màu trắng trong bên trong chứa 2,234 gam Methaphetamine và 01 túi ni lông màu trắng trong chứa 24 viên nén hình tròn màu hồng nặng 2,234 gam Methaphetamine và 02 viên nén hình tròn màu xanh nặng 0,194 gam Methaphetamine đến nơi hẹn nhưng chưa gặp được người mua thì bị bắt giữ.
Bản Cáo trạng số 34/CT-VKS-ĐP ngày 08 tháng 4 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đan Phượng truy tố bị cáo Lê Anh T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo qui định tại điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Lê Anh T khai nhận hành vi đã thực hiện như nội dung nêu trên. Bị cáo cũng trình bày bản thân đã nhận thức hành vi của mình là sai pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đan Phượng tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Lê Anh T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Thế từ 08 năm tù đến 08 năm 06 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 03 bao gói chứa ma túy đã niêm phong sau khi giám định. Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Promax màu xanh thu giữ của bị cáo. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo qui định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện kiểm sát, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra và truy tố, Cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo Lê Anh T thành khẩn khai nhận hành vi của mình như nội dung cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, được chứng minh bằng lời khai người làm chứng, vật chứng và các tài liệu điều tra khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: Với mục đích thu lời bất chính, ngày 17/12/2024 Lê Anh T đã mua 5,227 gam Methaphetamine và được tặng thêm 10 viên ma tuý “Ngựa” màu xanh (0,963 gam Methaphetamine) của một người nam giới (không xác định nhân thân, địa chỉ) với số tiền 6.060.000 đồng, rồi mang về nhà cất giấu mục đích để bán trái phép cho người khác.
Đến khoảng 23 giờ 30 phút ngày 22/12/2024, Thế mang theo 21 túi ni lông bên trong chứa tinh thể màu trắng, 24 viên nén hình tròn màu hồng và 02 viên nén hình tròn màu xanh đều là ma tuý (loại Methaphetamine trọng lượng 5,475 gam) trong người mang đến khu vực khu vực bờ giếng đầu ngõ nhà Thế ở Thôn Đ, xã Đ, huyện Đan Phượng, Hà Nội bán trái phép nhưng chưa kịp bán thì bị cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đan Phượng kiểm tra, phát hiện bắt giữ.
Hành vi bán chất ma túy cho người khác mục đích để kiếm lời của bị cáo Lê Anh T đã đủ các yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Tổng khối lượng ma túy Methaphetamine thu giữ của bị cáo là 6.190 gam nên hành vi của bị cáo thuộc điểm i khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đan Phượng truy tố bị cáo về tội danh và điều luật đã viện dẫn trong bản cáo trạng là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét tính chất của vụ án là rất nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền của nhà nước về quản lý các chất ma túy. Bị cáo không sử dụng ma túy và bản thân nhận thức được chất ma túy có nhiều tác hại đối với sức khỏe của người sử dụng, ma túy còn là một trong những nguyên nhân dẫn đến việc phát sinh tội phạm hình sự và tệ nạn xã hội, gây mất trật tự trị an xã hội nhưng vì lợi ích cá nhân nên phạm tội. Do đó, cần phải có hình phạt nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm nói chung.
Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử cũng xem xét: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 của Bộ luật hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai báo nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án và tiền sự, lần đầu phạm tội nên xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt.
Theo qui định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự thì ngoài hình phạt chính điều luật còn quy định hình phạt bổ sung là phạt tiền, xét thấy bị cáo Lê Anh T là người lao động tự do, thu nhập không ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung.
Về nguồn gốc số ma túy thu giữ khi phát hiện, bắt giữ và thu ở nhà Lê Anh T, bị cáo khai mua của người nam giới (không rõ nhân thân, địa chỉ) qua mạng xã hội Telegram, mục đích để bán gồm ma tuý “Đá”, ma tuý “Ngựa” với tổng số tiền 6.060.000 đồng và được tặng thêm 10 viên ma tuý “Ngựa” màu xanh được gửi qua chuyển phát nhanh (không rõ đơn vị vận chuyển). Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã tiến hành điều tra nhưng không làm rõ được nhân thân của đối tượng bán ma túy nêu trên và đơn vị chuyển phát nhanh nên không có căn cứ để xem xét, xử lý.
Quá trình điều tra vụ án, Cơ quan điều tra đã xác minh và xác định chủ thuê bao số 0899576356 là anh Trần Phước Nghĩa, sinh năm 1987 ở số 29/5A đường 23, phường Bình Trưng Đông, thành phố Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh. Tại Cơ quan điều tra, anh Nghĩa khai không đăng ký số điện thoại nêu trên và không có quan hệ với Lê Anh T nên Cơ quan điều tra không có căn cứ làm rõ để xử lý.
Về vật chứng vụ án: Số ma túy thu giữ của bị cáo Lê Anh T, sau khi giám định đã được Cơ quan giám định niêm phong trong 03 bao gói, vật chứng này không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax màu xanh, bên trong lắp sim số 0378295992 thu giữ của Lê Anh T, quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định bị cáo sử dụng vào việc liên lạc để mua bán ma túy nên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
Án phí, quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo qui định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Lê Anh T 08 (Tám) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 23/12/2024.
2. Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
+ Tịch thu tiêu hủy 03 bao gói chứa ma tuý, sau khi giám định đã được Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hà Nội niêm phong.
+ Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax màu xanh đã qua sử dụng, bên trong lắp 01 sim thu giữ của bị cáo Lê Anh T (Vật chứng hiện lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/4/2025).
3. Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Lê Anh T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo Lê Anh T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./. HỘI THẨM NHÂN DÂN
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - TAND thành phố Hà Nội; - VKSND huyện Đan Phượng; - CQTHAHS CATP Hà Nội; - CCTHADS huyện Đan Phượng; - Bị cáo....; - Lưu hồ sơ vụ án. HỘI THẨM NHÂN DÂN | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Doãn Văn Tuyến THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |