- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn S - Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Văn S phạm tội “Đánh bạc”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số Số: 01/2022/NQ-HĐTP Sửa đổi, bổ sung một số đi…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 37/2025/HS-ST Ngày 18 - 9 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Tuấn Duy
Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Thành Nhạn
Bà Cao Thị Mỹ Phượng
- Thư ký phiên tòa: Bà Phùng Thị Loan, Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 8 – Cà Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tín - Kiểm sát viên
Ngày 18 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 8 - Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 25/2025/TLST-HS ngày 20 tháng 8 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 41/2025/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 8 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: TRẦN VĂN S, sinh ngày 01/01/1982 tại Bạc Liêu. Nơi cư trú: Ấp 5, xã T, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu (nay là Khóm 5, phường L, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Làm vuông; trình độ văn hóa (học vấn): 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn U, sinh năm 1941 và bà Lê Thị H (đã chết); có vợ tên Nguyễn Ngọc D, sinh năm 1982 và 02 người con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 12 giờ 45 phút, ngày 20/12/2024, qua đơn thư tố giác của người dân, Công an xã T đã tiến hành xác minh và mời Trần Văn S về trụ sở để làm việc về hành vi mua bán số lô đề. Quá trình làm việc Trần Văn S đã thừa nhận hành vi đánh bạc dưới hình thức mua bán số lô, đề và tự nguyện giao nộp các đồ vật, tài liệu có liên quan gồm: 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng, có nhãn hiệu OPPO, loại OPPO Renno 5, màu đen có gắn 01 (một) sim Vinaphone với số thuê bao là 0916808153; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA 105, màu đen có gắn 01 (một) sim Vinaphone với số thuê bao là 0943484030; tiền Việt Nam 17.300.000 đồng; 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA màu trắng-xanh, mang biển kiểm soát 94D1-071.97; 01 Giấy chứng nhận đăng kí xe mô tô, xe gắn máy mang số 003521 mang tên Trần Văn S, biển số đăng kí 94D1-071.97.
Quá trình điều tra chứng minh: Trần Văn S bắt đầu thực hiện hành vi mua bán số lô đề từ khoảng tháng 10 năm 2024 đến ngày bị phát hiện, những người quen biết ở địa phương có nhu cầu mua số đầu, số đuôi và số lô thì liên hệ với Sử bằng số điện thoại; thông qua gửi tin nhắn, gọi điện từ mạng xã hội Zalo hoặc gặp trực tiếp để đặt cược. Hình thức cá cược: người nào mua số đầu, số đuôi và số lô thì tỉ lệ cá cược thắng thua là 1/80, tức là người mua cược 1.000 đồng thắng 80.000 đồng; nếu là số đầu, người mua thắng cược thì S trả 80.000 đồng, còn người mua thua cược thì trả Sử 1.000 đồng; tương tự với người mua số đuôi giống như số đầu; Riêng trường hợp số lô, nếu người mua số lô cược 1.000 đồng thì trả cho S số tiền là 15.000 đồng, nếu người chơi trúng thì S trả cho người mua với số tiền là 80.000 đồng. Khi người chơi muốn mua số qua điện thoại thì S dùng điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA 105, màu đen có gắn số điện thoại 0943484030 để ghi âm lại cuộc gọi với người mua hoặc gặp trực tiếp S để mua số; sau đó S ghi các con số đã nhận ra tờ giấy (phơi đề) rồi dùng điện thoại di động màn hình cảm ứng, có nhãn hiệu OPPO, loại OPPO Renno 5, màu đen có gắn sim số 0916808153 chụp hình lại tờ phơi số lưu vào điện thoại để làm căn cứ tính thắng thua với người chơi sau khi có kết quả xổ số. S lấy kết quả mở thưởng của các Công ty xổ số kiến thiết các tỉnh miền Nam để làm căn cứ thắng thua với người mua (quy ước chỉ cá cược đài chính); cụ thể: thứ hai là đài tỉnh Cà Mau, thứ ba là đài tỉnh Bạc Liêu, thứ tư là đài tỉnh Sóc Trăng, thứ năm là đài tỉnh An Giang, thứ sáu là đài tỉnh Trà Vinh, thứ bảy là đài tỉnh Long An và chủ nhật là đài tỉnh Kiên Giang. Mỗi ngày, sau khi đã có kết xổ số thì S và người mua gặp trực tiếp để thanh toán tiền thắng thua.
Vào ngày 19/12/2024, Trần Văn S mua bán số lô, đề cho nhiều người dân ở địa phương của đài xổ số kiến thiết An Giang mở thưởng ngày 19/12/2024. Hình thức mua bán số lô, đề bằng cách ghi âm lại cuộc gọi bằng điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA 105, màu đen và viết ghi ra giấy các con số đặt mua và số tiền sau đó S dùng điện thoại di động OPPO Renno 5, màu đen chụp lại lưu phơi số đề vào file ảnh để làm căn cứ tính thắng thua với người chơi. S mua bán số lô, đề của đài An Giang với số đầu, số đuôi và số lô 02 con. S đã mua với số tiền số đầu là 675.000 đồn, số tiền số đuôi là 675.000 đồng, số tiền lô 02 con là 3.900.000 đồng. Tổng số tiền phơi đề của đài xổ số kiến thiết An Giang ngày 19/12/2024 là 5.250.000 đồng. Sau khi đối chiếu kết quả xổ số kiến thiết đài An Giang mở thưởng ngày 19/12/2024 thì không có số trúng. Như vậy, số tiền Trần Văn S dùng vào việc đánh bạc của ngày 19/12/2024 của đài xổ số kiến thiết An Giang là 5.250.000 đồng.
Ngoài ra, vào ngày 20/12/2020 đài xổ số kiến thiết Trà Vinh, Trần Văn S mua bán số lô, đề với số tiền dùng vào việc đánh bạc là 1.150.000 đồng chưa đủ định lượng để truy cứu trách nhiệm hình sự.
- Tại Bản kết luận giám định số: 2037/KL-KTHS, Ngày 12/6/2025, Phân viện khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh về giám định âm thanh (giọng nói) đối với 04 (Bốn) file âm thanh:
+ Không phát hiện dấu hiệu cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hội thoại trong các file âm thanh mẫu cần giám định.
+ Trong file âm thanh có số TT 01: Tiếng nói của người nam nói câu “ba con số đi, bảy mươi bốn, bốn mươi bảy trong và tiếng nói của Trần Văn P trong mẫu so sánh là của cùng một người nói ra. Tiếng nói của người nam nói câu "bảy mươi bốn, bốn bảy phải hồng tiếng nói của Trần Văn S trong mẫu so sánh là của cùng một người nói ra.
+ Trong file âm thanh có số TT 02: Tiếng nói của người nam nói câu “ hồi nãy hả, nãy nhiêu, ý bữa nay là ...” và tiếng nói của Trần Văn S trong mẫu so sánh là của cùng một người nói ra. Tiếng nói của người nam nói câu “ ... mai là trả mười lăm triệu á .” và tiếng nói của Phạm Văn P1 trong mẫu so sánh là của cùng một người nói ra.
+ Trong file âm thanh có số TT 03: Tiếng nói của người nam nói câu “Rồi nói đi .... Bốn một, lỗ năm chục ngàn” và tiếng nói của Trần Văn S trong mẫu so sánh là của cùng một người nói Tiếng nói của người nam nói câu “bốn mốt đầu hai năm chục ngàn lỗ, đấu hai trăm, đuôi hai trăm” và tiếng nói của Phạm Văn P1 trong mẫu so sánh là của cùng một người nói ra.
+ Trong file âm thanh có số TT 04: Tiếng nói của người nam nói câu “, ba chục phải hông?” và tiếng nói của Trần Văn S trong mẫu so sánh là của cùng một người nói ra. Không đủ cơ sở kết luận tiếng nói của người xưng “chú” của người giám định do thời lượng ngắn, số lượng âm tiết ít.
- Tại Bản kết luận giám định số 116/KL-KTHS ngày 23/6/2025 của Phòng kỹ thuận hình sự Công an tỉnh Bạc Liêu kết luận:
+ Ngày giờ trên điện thoại hiển thị không đúng ngày giờ thực tế.
+ Tìm thấy dữ liệu tin nhắn, hình ảnh, file ghi âm và nhật ký cuộc gọi, dữ liệu trên ứng dụng Zalo từ ngày 20/12/2023 đến ngày 20/12/2024 trong mẫu cần giám định ký hiệu A.
+ Không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung tập tin có tên IMG20241219155334. (Chi tiết dữ liệu trích xuất được lưu trữ trong 01 (một) đĩa DVD nhãn hiệu maxell DVD 1-16X SPEED).
+ Kèm theo kết luận giám định (nếu có): 01 (một) đĩa DVD nhãn hiệu maxell DVD 1-16X SPEED). (Bút lục 44)
- Tại bản kết luận giám định số 115/KL/KTHS ngày 30/6/2025 của Phòng kỹ thuận hình sự Công an tỉnh Bạc Liêu kết luận như sau:
+ Ngày giờ trên điện thoại mẫu cần giám định ký hiệu A không đúng ngày giờ thực tế.
+ Không tìm thấy dữ liệu hình ảnh trong mẫu cần giám định ký hiệu A khoảng thời gian từ ngày 20/12/2023 đến ngày 20/12/2024.
+ Tìm thấy 04 (bốn) file ghi âm trong mẫu cần giám định ký hiệu A khoảng thời gian từ ngày 20/12/2023 đến ngày 20/12/2024 (Chi tiết dữ liệu trích xuất được lưu trữ trong 01 (một) đĩa DVD, nhãn hiệu maxell DVD-R 1-16X SPEED).
+ Chụp được 17 (mười bảy) file ảnh có chứa nội dung tin nhắn và lịch sử cuộc gọi trong mẫu cần giám định ký hiệu A khoảng thời gian từ ngày 20/12/2023 đến ngày 20/12/2024 (Chi tiết dữ liệu trích xuất được lập thành văn bản gồm 05 (năm) trang giấy khổ A4).
+ Không tiến hành giám định các file ghi âm trong mẫu cần giám định ký hiệu A có cắt, ghép, chỉnh sửa hay không do không có Giám định viên về lĩnh vực âm thanh.
+ Kèm theo kết luận giám định (nếu có): (Chi tiết dữ liệu trích xuất được lập thành văn bản gồm 05 (năm) trang giấy khổ A4).
Cáo trạng số 19/CT-VKS-HS, ngày 19/8/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Cà Mau, truy tố để xét xử bị cáo Trần Văn S về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa sơ thẩm, Kiểm sát viên giữ quyền công tố giữ nguyên Cáo trạng truy tố đối với bị cáo. Sau khi phân tích hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử:
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Văn S phạm tội “Đánh bạc”.
Về hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 3 Điều 54 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trần Văn S từ 03 tháng tù đến 05 tháng tù
Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước:
+ 01 (một) điện thoại NOKIA 105, màu đen; số IMEI lần lượt là: 353747946208294 và 353747946208302
+ 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, loại OPPO Renno 5, màu đen; số seri: BFFDC2; số IMEI 1: 867329050416275; số IMEI 2:867329050416267
+ Số tiền 5.250.000 đồng
- Tịch thu và tiêu hủy :
+ 01 (một) sim Vinaphone có dãy số 89840200010867181489 với số thuê bao là 0943484030 (được gắn bên trong điện thoại NOKIA 105, màu đen; số IMEI lần lượt là: 353747946208294 và 353747946208302).
+ 01 (một) sim Vinaphone có dãy số 89840200011156857565 với số thuê bao là 0916808153 (được gắn bên trong điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, loại OPPO Renno 5, màu đen; số seri: BFFDC2; số IMEI 1: 867329050416275; số IMEI 2:867329050416267).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại về hành vi tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, nên hành vi tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên thực hiện đúng theo quy định pháp luật.
Căn cứ lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, cùng với các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra làm rõ tại phiên tòa. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Ngày 19/12/2024, bị cáo Trần Văn S có hành vi ghi số lô, đề cho nhiều người dân ở địa phương, số tiền bị cáo dùng vào việc đánh bạc ngày 19/4/2024 của đài xổ số kiến thiết tỉnh An Giang là 5.250.000 đồng. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Cà Mau truy tố bị cáo Trần Văn S về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định pháp luật.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Hội đồng xét xử, xét thấy hành vi ghi số lô, đề của bị cáo là hình thức đánh bạc với mục đích thắng, thua bằng tiền nhưng không được cơ quan có thẩm quyền cho phép là vi phạm pháp luật hình sự. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến trật tự công cộng nếp sống văn minh của xã hội mà còn là một trong những nguyên nhân gián tiếp làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác, là một trong những tệ nạn xã hội cần được bài trừ, nên cần phải xử lý nghiêm để răn đe và phòng ngừa chung.
Tuy nhiên, khi quyết định hành phạt cho bị cáo, Hội đồng xét xử có xem xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm mà bị cáo được hưởng là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo nộp lại số tiền thu lợi bất chính từ hành vi đánh bạc đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 1 và 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, bản thân bị cáo có khả năng tự cải tạo.
Do đó, căn cứ Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao (sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo), thì bị cáo có đủ điều kiện để được áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự, không cần phải bắt các bị cáo chấp hành hình phạt tù, việc cho các bị cáo hưởng án treo cũng không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.
Về xử lý vật chứng: Chấp nhận như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Cà Mau
Về án phí: Bị cáo Trần Văn S phải phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Như đã phân tích, có căn cứ chấp nhận một phần đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Cà Mau
Quá trình điều tra xác định các đối tượng Trần Văn P, Nguyễn Văn Q, Phạm Văn P1, Nguyễn Minh Đ có đặt cược số lô đề ngày 19/12/2024 của Trần Văn S, nhận thấy, số tiền đánh bạc của các đối tượng trên không đủ định lượng để truy cứu trách nhiệm hình sự; các đối tượng chưa có tiền án, tiền sự về hành vi đánh bạc, tổ chức đánh bạc nên Cơ quan điều tra chuyển hồ sơ đề nghị Cơ quan có thẩm quyền ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp.
Đối với hành vi “đặt cược số lô đề” của đối tượng Lê Hoàng N ngày 26/7/2022 không đủ định lượng để truy cứu trách nhiệm hình sự, đã hết thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính và đối tượng không có tiền án, tiền sự về hành vi đánh bạc, tổ chức đánh nên không đề cặp xử lý là phù hợp.
Đối với người đặt cược số lô đề các con số 52, 59, quá trình điều tra chưa xác định được nhân thân, lý lịch nên Cơ quan điều tra tiếp tục kiểm tra, xác minh có căn cứ sẽ xử lý theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Trần Văn S phạm tội “Đánh bạc”.
2. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Trần Văn S 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 tháng kể từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo Trần Văn S cho Ủy ban nhân dân phường L, tỉnh Cà Mau giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cáo Trần Văn S thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
3.1. Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước:
+ 01 (một) điện thoại NOKIA 105, màu đen; số IMEI lần lượt là: 353747946208294 và 353747946208302
+ 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, loại OPPO Renno 5, màu đen; số seri: BFFDC2; số IMEI 1: 867329050416275; số IMEI 2:867329050416267
+ Số tiền 5.250.000 đồng do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Cà Mau đang quản lý theo giấy nộp tiền số 11592691 ngày 08/8/2025. Đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Cà Mau nộp đến Phòng Thi hành án dân sự khu vực 8 - Cà Mau để xử lý theo quy định pháp luật.
3.2. Tịch thu và tiêu hủy :
+ 01 (một) sim Vinaphone có dãy số 89840200010867181489 với số thuê bao là 0943484030 (được gắn bên trong điện thoại NOKIA 105, màu đen; số IMEI lần lượt là: 353747946208294 và 353747946208302).
+ 01 (một) sim Vinaphone có dãy số 89840200011156857565 với số thuê bao là 0916808153 (được gắn bên trong điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, loại OPPO Renno 5, màu đen; số seri: BFFDC2; số IMEI 1: 867329050416275; số IMEI 2:867329050416267).
(Hiện đồ vật, tài sản nêu trên Phòng Thi hành án dân sự tkhu vực 8 – Cà Mau quản lý theo biên bản giao, nhận vật chứng, tài sản ngày 17/9/2025, đối với số tiền 5.250.000 đồng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Cà Mau đang quản lý theo giấy nộp tiền số 11592691 ngày 08/8/2025)
4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Trần Văn S phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Cà Mau(01b); - VKSND tỉnh Cà Mau (01b); - VKSND khu vực 8 – Cà Mau (01b); - CQĐT Công an tỉnh Bạc Liêu (01b); - P. THADS khu vực 8 – Cà Mau (01b); - Bị cáo (01b); - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Tuấn Duy |