- Tranh chấp gì? án hình sự — "NGUYỄN TẤN T - phạm tội sử dụng trái phép chất ma túy (điều 256a Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2025)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Tấn T phạm tội: “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 14 TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 37/2025/HS-ST Ngày 09-12-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 14, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đình Học
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Thành Vui
2. Bà Nguyễn Kim Phụng
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Nhi – Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 14, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 14, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Kỳ - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 12 năm 2025 Tòa án nhân dân Khu vực 14, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm, trực tuyến công khai tại điểm cầu trung tâm: Hội trường xét xử Tòa án nhân dân Khu vực 14, tỉnh Đồng Nai và điểm cầu thành phần: Phân trại tạm giam Khu vực L thuộc trại Trại tạm giam số 2, tỉnh Đồng Nai vụ án hình sự thụ lý số 26/2025/TLST-HS ngày 11/11/2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 38/2025/QĐXXST-HS ngày 28/11/2025 đối với bị cáo:
Nguyễn Tấn T, sinh ngày 05 tháng 01 năm 1998 tại Đồng Nai.
Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 7/12; Nơi cư trú: ấp C, xã L, tỉnh Đồng Nai.
Cha: Nguyễn Văn T1, sinh năm: 1968 (còn sống), Mẹ: Đinh Thị V, sinh năm: 1970 (còn sống); Bị cáo có 02 chị em, lớn nhất sinh năm 1990, nhỏ nhất là bị cáo; Bị cáo chưa có vợ, con.
Tiền án: Không;
Tiền sự: 01.
Ngày 17/8/2023, bị Tòa án nhân huyện L, tỉnh Bình Phước (nay là Tòa án nhân dân khu vực 14 – Đồng Nai) áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 20 tháng, đến ngày 26/6/2025 chấp hành xong cai nghiện bắt buộc.
Nhân thân: Ngày 14/01/2015, bị Tòa án nhân huyện L, tỉnh Bình Phước (nay là Tòa án nhân dân khu vực 14 – Đồng Nai) xử phạt 04 năm tù về tội cướp giật tài sản; Ngày 13/11/2029, bị Tòa án nhân huyện L, tỉnh Bình Phước (nay là Tòa án nhân dân khu vực 14 – Đồng Nai) xử phạt 09 tháng tù về tội trộm cắp tài sản; Ngày 03/02/2021, bị Tòa án nhân huyện L, tỉnh Bình Phước (nay là Tòa án nhân dân khu vực 14 – Đồng Nai) xử phạt 10 tháng tù về tội trộm cắp tài sản, đến ngày 21/5/2022 bị cáo chấp hành xong hình phạt, bị cáo đã được xóa án tích.
Bị cáo Nguyễn Tấn T bị tạm giữ từ ngày 27/8/2025 đến ngày 04/9/2025 khởi tố bị can và chuyển tạm giam cho đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực L thuộc trại tạm giam số 2, Công an tỉnh Đ.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 10 giờ 00 phút ngày 26/8/2025, Nguyễn Tấn T (là đối tượng đang bị quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú), do có nhu cầu sử dụng ma túy nên T từ nhà thuộc ấp C, xã L, tỉnh Đồng Nai quá giang xe người đi đường đến khu vực ấp N, xã T, tỉnh Đồng Nai mua ma túy về sử dụng. Trên đường đi, T ghé vào 01 tiệm thuốc tây ở khu vực vòng xoay thuộc phường B, tỉnh Đồng Nai để mua 01 bơm kim tiêm để sử dụng ma túy. Sau đó, T tiếp tục đi nhờ xe của người đi đường đến khu vực ngã ba N thì gặp 01 người đàn ông tên T2 (không rõ nhân thân, lai lịch), T hỏi mua 150.000đ ma túy loại heroin, người đàn ông này đồng ý, rồi T đưa tiền cho người đàn ông này và được người đàn ông này đưa cho T 01 đoạn ống hút được hàn kín 02 đầu, bên trong có chứa ma túy. Sau khi mua ma túy, T nhờ xe của người đi đường đi về nhà cất giấu, đến khoảng 12 giờ cùng ngày T lấy một nữa ma túy ra pha với nước cất dùng ống kim tiêm chích vào người và đến khoảng 20 giờ cùng ngày, T lấy số ma túy còn lại ra sử dụng hết rồi đi ngủ. Đến khoảng 09 giờ 30 phút ngày 27/8/2025, Công an xã L mời T lên làm việc và tiến hành test nhanh ma tuý trong nước tiểu của T thì dương tính với ma tuý tổng hợp. Qua làm việc T đã khai nhận toàn hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Tại quyết định số 212 ngày 27/6/2025 của Ủy ban nhân dân xã L, tỉnh Bình Phước (nay là xã L, tỉnh Đồng Nai) quyết định quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú đối với Nguyễn Tấn T. Thời hạn quả lý từ ngày 27/6/2025 đến ngày 27/6/2027.
Căn cứ bản kết luận giám định số: 1884 ngày 03/9/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công tỉnh Đ kết luận mẫu nước tiểu của Nguyễn Tấn T được niêm phong gửi đi giám định có tìm thấy chất ma túy loại, M, heroin (Heroine) và sản phẩm chuyển hóa của methamphetamine, heroin (heroine). Mẫu đã sử dụng hết trong công tác giám định. Tang vật thu giữ:
- 01 kim tiêm;
- 01 lọ mẫu nước tiểu của Nguyễn Tấn T;
- 01 mẫu kết quả test nhanh của Nguyễn Tấn T thể hiện dương tính với ma túy tổng hợp.
Cáo trạng số 03/CT-VKS ngày 10 tháng 11 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 14, tỉnh Đồng Nai truy tố bị cáo Nguyễn Tấn T về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 256a của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2024, 2025).
Tại phiên toà:
Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố bảo vệ quan điểm của bản cáo trạng số 03/CT-VKS ngày 10/11/2025, căn cứ tính chất mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Nguyễn Tấn T phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 256a, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Tấn T mức án từ 02 (Hai) năm 03 (Ba) tháng đến 02 (Hai) năm 06 (sáu) tháng tù.
* Đề nghị xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 của Bộ
luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Tuyên tịch thu tiêu hủy:
Đối với 01 ống kim tiêm bằng nhựa, màu trắng kích thước (11,5 x 0,5)cm một đầu có gắn kim tiêm bằng kim loại dài 2cm bên ngoài bọc vỏ nhựa màu đỏ và 01 mẫu kết quả test nhanh của Nguyễn Tấn T thể hiện dương tính với ma túy tổng hợp là vật chứng trong vụ án.
Trách nhiệm dân sự: Vụ án không phát sinh vấn đề dân sự.
Bị cáo tranh luận: Bị cáo không tranh luận gì.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 14, tỉnh Đồng Nai và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra và truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của bị cáo và những người tham gia tố tụng.
Tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Tấn T khai nhận:
Vào khoảng 10 giờ ngày 26/8/2025, Nguyễn Tấn T (là đối tượng đang bị quả lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú) quá giang xe người đi đường xuống khu vực ngã ba N thuộc xã T, tỉnh Đồng Nai mua ma túy loại heroin của một tên T2 (không rõ địa chỉ) với giá là 150.000đ đem về nhà cất giấu và sử dụng, đến khoảng 09 giờ 30 phút, ngày 27/8/2025, Công an xã L, tỉnh Đồng Nai triệu tập T lên làm việc thì phát hiện T dương tính với ma túy tổng hợp. Vậy, hành vi của bị cáo Nguyễn Tấn T đã có quyết định đưa đi cai nghiện ma túy bắt buộc, hết thời gian cai nghiện bắt buộc về địa phương dưới sự giám sát của chính quyền địa phương sau cai nghiện thì bị cáo lại tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy, đã đủ yếu tố cấu thành tội Sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 256a của Bộ luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2024, 2025. Điều 256a Bộ luật hình sự quy định quy định về tội sử dụng trái phép chất ma túy như sau:
“1. Người nào sử dụng trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 2 năm đến 3 năm:
a) …………………………….
b) Đang trong thời hạn quản lý sau cai nghiện ma túy theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy;
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các loại chất gây nghiện, đi ngược lại đường lối chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước trong việc đấu tranh phòng ngừa các tội phạm về ma túy, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự địa phương, đồng thời là mầm mống của các tệ nạn xã hội khác. Bị cáo là người đã thành niên và hoàn toàn nhận thức được hành vi sử dụng trái phép ma túy là vi phạm pháp luật, ảnh hưởng đến sức khỏe, tính mạng và sự an toàn của con người nhưng bị cáo vẫn thực hiện để thỏa mãn nhu cầu của bản thân.
Bị cáo có một tiền sự: Ngày 17/8/2023, bị Tòa án nhân huyện L, tỉnh Bình Phước (nay là Tòa án khu vực 14 – Đồng Nai) áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 20 tháng, đến ngày 26/6/2025 chấp hành xong cai nghiện bắt buộc.
Nhân thân xấu: Ngày 14/01/2015, bị Tòa án nhân huyện L, tỉnh Bình Phước (nay là Tòa án khu vực 14 – Đồng Nai) xử phạt 04 năm tù về tội cướp giật tài sản; Ngày 13/11/20219, bị Tòa án nhân huyện L, tỉnh Bình Phước (nay là Tòa án khu vực 14 – Đồng Nai) xử phạt 09 tháng tù về tội trộm cắp tài sản; Ngày 03/02/2021, bị Tòa án nhân huyện L, tỉnh Bình Phước (nay là Tòa án khu vực 14 – Đồng Nai) xử phạt 10 tháng tù về tội trộm cắp tài sản, đến ngày 21/5/2022 bị cáo chấp hành xong hình phạt, bị cáo đã được xóa án tích.
Bị cáo đã từng bị xét xử về nhiều hành vi phạm tội và đưa đi cai nghiện bắt buộc nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để rút kinh nghiệm mà bị cáo vẫn tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy, thể hiện sự coi thường pháp luật, là đối tượng khó cải tạo thành người có ích cho xã hội nên cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc, tù có thời hạn để bị cáo có thời gian cải tạo để trở thành người có ích cho xã hội sau này. Tuy nhiên, cần xem xét đến tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự khi áp dụng mức hình phạt cho bị cáo. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo nên được Hội đồng xét xử xem xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo khi quyết định hình phạt. Trên cơ sở đó, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 14, tỉnh Đồng Nai vẫn giữ nguyên nội dung truy tố như bản Cáo trạng số 03/CT-VKS ngày 10/11/2025, truy tố bị cáo Nguyễn Tấn T về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” và đề nghị áp dụng điểm b khoản 1 Điều 256a, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2024, 2025, để đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận. [4] Xử lý vật chứng vụ án: Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát đề nghị xử lý vật chứng như trên là có căn cứ; phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Trách nhiệm dân sự: Không có nên không đề cập đến.
Án phí: Bị cáo T phải chịu theo luật định. Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tội danh:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Tấn T phạm tội: “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
2. Điều luật áp dụng và mức hình phạt:
Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 256a, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2024, 2025:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Tấn T mức án 02 (Hai) năm 06 (S) tháng tù. Thời gian tù tính từ ngày 27/8/2025.
Tiếp tục tạm giam bị cáo trong hạn 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
3. Vật chứng vụ án:
Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:
- Số Ma túy thu giữ sử dụng hết cho việc giám định.
- Tịch thu, tiêu hủy: Đối với 01 ống kim tiêm bằng nhựa, màu trắng kích thước (11,5 x 0,5)cm một đầu có gắn kim tiêm bằng kim loại dài 2cm bên ngoài bọc vỏ nhựa màu đỏ và 01 mẫu kết quả test nhanh của Nguyễn Tấn T thể hiện dương tính với ma túy tổng hợp là vật chứng trong vụ án.
(Theo như mô tả của biên bản giao nhận vật chứng số NK 2025/06 ngày 18/11/2025 giữa cơ quan cảnh sát Điều tra Công an tỉnh Đ và Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 14, tỉnh Đồng Nai).
4. Về án phí:
Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Q:
Bị cáo Nguyễn Tấn T phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo:
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm./.
| Nơi nhận : - TAND tỉnh Đồng Nai; - VKSND tỉnh Đồng Nai; - VKSND Khu vực 14 -Đồng Nai; - Phòng HSNC CA tỉnh Đồng Nai; - THADS tỉnh Đồng Nai; - Phòng THADS Khu vực 14-Đồng Nai; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Đình Học |