vanban.org

Bản án 37/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Dương Thị Kim Ph

Cho bà Dương Thị Kim Ph được ly hôn với ông Dương Văn Th Giấy chứng nhận kết hôn số 50/2014, quyển số 01 do Ủy ban nhân dân xã Sông Xoài, huyện Tân Thành (nay là thành phố Phú Mỹ), tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu cấp ngày 16/9/2014 không còn giá trị pháp lý. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Dương Thị Kim Ph - Dương Văn Th"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Dương Thị Kim Ph
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ PHÚ MỸ
TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 37/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 28-4-2025
V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ MỸ, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Phan Thị Sơn

2. Ông Nguyễn Thế Phương

- Thư ký phiên tòa: Ông Lâm Công Chức - là Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân thành phố Phú Mỹ.

Ngày 28 tháng 4 năm 2025 tại phòng xử án của Tòa án nhân dân thành phố Phú Mỹ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 49/2025/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 02 năm 2025, về việc “ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 3 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 20/2025/QĐST-HNGĐ ngày 11 tháng 4 năm 2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Dương Thị Kim Ph, sinh năm: 1993

Địa chỉ: Tổ 4, ấp Cầu Ri, xã Sông Xoài, thành phố Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (có đơn xin xét xử vắng mặt)

Bị đơn: Ông Dương Văn Th, sinh năm: 1993

Địa chỉ: Tổ 4, ấp Cầu Ri, xã Sông Xoài, thành phố Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (vắng mặt không lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện về việc ly hôn, tranh chấp nuôi con đề ngày 09 tháng 12 năm 2024 và trong quá giải quyết vụ án nguyên đơn bà Dương Thị Kim Ph trình bày:

Bà và ông Dương Văn Th bắt đầu chung sống với nhau vào năm 2014, có tổ chức đám cưới, do tự tìm hiểu đến với nhau và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Sông Xoài, huyện Tân Thành (nay là thành phố Phú Mỹ), tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Thời gian đầu chung sống thì bà và ông Th chung sống hạnh phúc. Tới năm 2016 thì bà và ông Th có những mâu thuẫn xảy ra, do ông Th thường xuyên ăn nhậu, nên vợ chồng hay xảy ra cãi vã. Ông Th còn có hành vi sử dụng bạo lực đối với bà. Bà và ông Th sống ly thân từ tháng 6 năm 2022 cho đến nay. Nay xét thấy, bà không còn tình cảm gì với ông Th, mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống chung không còn ý nghĩa nên bà yêu cầu Tòa án cho bà được ly hôn với ông Th để bà ổn định cuộc sống.

Về con chung: Bà và ông Th chung sống có một con chung là trẻ Dương Quốc H, sinh ngày 15/11/2014. Sau khi ly hôn bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng trẻ H, không yêu cầu ông Th cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết

Về nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Do bà bận đi làm nên đề nghị Tòa án tiến hành giải quyết và xét xử vắng mặt bà, bà cam kết không thắc mắc, khiếu nại gì về việc vắng mặt của mình.

Bị đơn ông Dương Văn Th vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Bà Dương Thị Kim Ph khởi kiện yêu cầu được ly hôn và tranh chấp về nuôi con với ông Dương Văn Th. Đây là ly hôn, tranh chấp về nuôi con thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Ông Dương Văn Th trực tiếp ký nhận các văn bản của Tòa do đó có cơ sở xác định ông Th đang cư trú tại tổ 4, ấp Cầu Ri, xã Sông Xoài, thành phố Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu nên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

Về sự vắng mặt của các đương sự: Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; Tòa án đã tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa cho bị đơn ông Dương Văn Th nhưng ông Th vẫn không đến Tòa tham gia xét xử nên Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bà Ph và ông Th là phù hợp với quy định tại điểm Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nêu rõ yêu cầu của bà Ph cho ông Th nhưng ông Th không đến Tòa trình bày ý kiến, tham dự các buổi hòa giải, xét xử theo quy định mà vắng mặt không lý do. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 4 Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 để giải quyết vụ án theo những chứng cứ đã thu thập được trong hồ sơ vụ án.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Dương Thị Kim Ph và ông Dương Văn Th sống chung có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã Sông Xoài, huyện Tân Thành (nay là thành phố Phú Mỹ), tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu cấp giấy chứng nhận kết hôn theo quy định của pháp luật. Do đó, có cơ sở xác định quan hệ hôn nhân giữa bà Ph và ông Th là hôn nhân hợp pháp được quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Trong quá trình giải quyết vụ án, bà Dương Thị Kim Ph xác định bà và ông Dương Văn Th mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không thể kéo dài, bà yêu cầu được ly hôn với ông Th để mỗi người tạo dựng cuộc sống riêng. Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu trên hoàn toàn phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Bởi lẽ, theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì Tòa án quyết định cho ly hôn nếu xét thấy tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Trong vụ án này, bà Ph khai bà và ông Th phát sinh mâu thuẫn do ông Th thường xuyên ăn nhậu nên dẫn tới vợ chồng hay xảy ra cãi vã, ông Th còn có hành vi bạo lực đối với bà. Bà và ông Th đã sống ly thân từ tháng 06 năm 2022 cho đến nay. Mặt khác ông Th không đến Toà án tham gia tố tụng để Toà án hoà giải, động viên hai bên đoàn tụ, hàn gắn tình cảm vợ chồng. Điều này chứng tỏ giữa bà Ph và ông Th không còn tình cảm và đều không có thiện chí để đoàn tụ, mục đích hôn nhân không đạt được thì cuộc sống chung cũng không còn ý nghĩa. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Ph đối với ông Th.

Về con chung: Bà Ph xác nhận bà và ông Th có 01 con chung là trẻ Dương Quốc H, sinh ngày 15/11/2014. Sau khi ly hôn, bà Ph có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng trẻ H. Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải cho ông Th nhưng ông Th vẫn không đến Tòa để thể hiện ý kiến của ông về vấn đề con chung mà vắng mặt không lý do.

Khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Vợ chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”.

Tại biên bản ghi nhận ý kiến ngày 05 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Phú Mỹ thì trẻ H có nguyện vọng được sống với bà Ph.

Từ những nhận định và phân tích nêu trên, nhằm bảo đảm quyền lợi về mọi mặt, tránh việc xáo trộn trong sinh hoạt hiện tại của trẻ H, Hội đồng xét xử quyết định giao trẻ H cho bà Ph trực tiếp nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà Ph không yêu cầu ông Th cấp dưỡng nuôi con chung, đây là sự tự nguyện của bà Ph và không trái luật nên Hội đồng xét xử tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đối với ông Th.

Về tài sản chung: Bà Ph xác nhận bà và ông Th không có tài sản chung. Ông Th vắng mặt không thể hiện ý kiến, yêu cầu của ông về vấn đề tài sản chung giữa ông và bà Ph nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết vấn đề tài sản chung giữa bà Ph với ông Th trong vụ án này, nếu sau này các đương sự có tranh chấp sẽ được giải quyết trong một vụ án khác.

Về nợ chung: Bà Ph xác nhận bà và ông Th không có nợ chung. Ông Th vắng mặt không thể hiện ý kiến, yêu cầu của ông về vấn đề nợ chung giữa ông và bà Ph nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết vấn đề nợ chung giữa bà Ph với ông Th trong vụ án này, nếu sau này các đương sự có tranh chấp sẽ được giải quyết trong một vụ án khác.

Về án phí: Bà Dương Thị Kim Ph chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 91, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Dương Thị Kim Ph

Cho bà Dương Thị Kim Ph được ly hôn với ông Dương Văn Th

Giấy chứng nhận kết hôn số 50/2014, quyển số 01 do Ủy ban nhân dân xã Sông Xoài, huyện Tân Thành (nay là thành phố Phú Mỹ), tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu cấp ngày 16/9/2014 không còn giá trị pháp lý.

2. Về con chung: Giao 01 con chung là trẻ Dương Quốc H, sinh ngày 15/11/2014 cho bà Ph trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đối với ông Th.

Ông Th có quyền tới lui thăm nom, chăm sóc con chung không ai có quyền ngăn cản. Vì lợi ích con chung, khi cần thiết các bên có quyền xin thay đổi việc nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét trong vụ án này, nếu sau này các đương sự có tranh chấp sẽ được giải quyết trong một vụ án khác.

4. Về án phí: Bà Dương Thị Kim Ph chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) mà bà Ph đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí lệ phí Tòa án số 0002769 ngày 14/02/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Phú Mỹ (nay là thành phố Phú Mỹ), tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Bà Ph đã nộp đủ án phí.

5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7A, 7B và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

6.

Về quyền kháng cáo: bà Dương Thị Kim Ph, ông Dương Văn Th có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ