- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn giữa chị Sầm Thị Tố Chinh và anh Nguyễn Chí Cường"
- Tòa quyết gì? Xử cho chị Sầm Thị Tố Ch ly hôn với anh Nguyễn Chí C.
- Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN BÀN TỈNH LÀO CAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:37/2025/HNGĐ-ST Ngày 27-6-2025 V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN BÀN - TỈNH LÀO CAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoàng Liên.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Hồ Trọng Trung
2. Ông Lê Duy Bình
Thư ký phiên toà: Ông Nông Ngọc Giang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị Nhung - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 49/2025/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 03 năm 2025 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 23/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 16/2025/QĐST-HNGĐ ngày 16 tháng 6 năm 2025 giữa các đương sự:
1. NgU đơn: Chị Sầm Thị Tố Ch - Sinh năm: 1986.
Địa chỉ: Thôn B, xã Khánh Yên H, huyện Văn B, tỉnh Lào Cai - Có mặt.
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Chí C - Sinh năm: 1988.
Địa chỉ: Thôn B, xã Khánh Yên H, huyện B, tỉnh Lào Cai - Vắng mặt lần thứ hai không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện gửi đến Tòa án ngày 21/3/2025 và bản tự khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, chị Sầm Thị Tố Ch trình bầy:
Chị và anh Nguyễn Chí C đăng ký kết hôn ngày 31/01/2008 tại UBND xã Khánh Yên Hạ, huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai. Anh chị chung sống đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm, tính cách không hợp, không tìm được tiếng nói chung, anh C không quan tâm chăm lo gia đình, vợ chồng hay xẩy ra cãi nhau, cuộc sống chung không hoà thuận, hạnh phúc. Do mâu thuẫn trầm trọng, chị về nhà bố mẹ đẻ sinh sống nên anh chị đã sống ly thân từ cuối năm 2022 đến nay. Chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho anh chị ly hôn.
Quá trình giải quyết, anh C vẫn sinh sống tại địa phương nhưng anh không đến Toà án làm việc. Toà án đã nhiều lần tống đạt trực tiếp các văn bản tố tụng cho anh C nhưng anh không có bản tự khai trình bầy ý kiến, không đến Toà án làm việc, anh đề nghị Toà án xem xét giải quyết theo quy định, không có ý kiến đề nghị gì.
Về con chung: Chị Ch trình bầy, quá trình chung sống anh chị có 01 con chung là cháu Nguyễn Thị Thu U - Sinh ngày: 30/12/2008, hiện tại cháu phát triển bình thường và sống cùng chị Ch. Chị có nguyện vọng tiếp tục nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh C phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Về tài sản chung và công nợ chung: Chị Ch không yêu cầu chia tài sản chung và trình bầy không có công nợ chung nên không yêu cầu giải quyết.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Bàn phát biểu ý kiến trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến phiên tòa hôm nay: Thẩm phán, Hội đồng xét xử đều thực hiện đúng các quy định của pháp luật: về thủ tục Tố tụng dân sự, xác định đúng quan hệ pháp luật, đúng tư cách người tham gia tố tụng, thu thập chứng cứ và giải quyết trong thời hạn luật định.
NgU đơn chấp hành tốt các quy định của pháp luật khi tham gia tố tụng. Bị đơn đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng không đến Tòa án làm việc. Lời khai của ngU đơn phù hợp với các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án, xác định các đương sự có mâu thuẫn, ngU nhân mâu thuẫn do tính cách không hợp, bất đồng quan điểm, vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2022 đến nay, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; Khoản 4 Điều 147, điểm b Khoản 2 Điều 227, Khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Xử cho chị Sầm Thị Tố Ch được ly hôn với anh Nguyễn Chí C.
Về con chung: Chị Ch và anh C có 01 con chung là cháu Nguyễn Thị Thu U -Sinh ngày: 30/12/2008. Chị Ch có nguyện vọng nuôi dưỡng con chung và cháu U cũng có nguyện vọng ở với mẹ. Vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử giao cháu Nguyễn Thị Thu U cho chị Ch trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu U đủ 18 tuổi. Chị Ch không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên không xem xét giải quyết. Đề nghị tU án phí và quyền kháng cáo cho các đương sự theo quy định của pháp luật.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho các đương sự theo quy định. Tòa án đã tiến hành mở phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai các tài liệu, chứng cứ nhưng không hoà giải được vụ án vì vắng mặt bị đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Chị Sầm Thị Tố Ch khởi kiện xin ly hôn với anh Nguyễn Chí C và đề nghị Tòa án giải quyết việc nuôi dưỡng chăm sóc con chung khi ly hôn. Các đương sự đều có hộ khẩu thường trú tại xã Khánh Yên Hạ, huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai. Vì vậy đây là tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai theo quy định tại Điều 28 và Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị Ch và anh C là hợp pháp. Quá trình chung sống, anh chị phát sinh mâu thuẫn do tính cách không hợp nhau, bất đồng quan điểm, không tìm được tiếng nói chung nên cuộc sống chung không hòa thuận, hạnh phúc. Anh chị đã sống ly thân từ năm 2022 đến nay, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị Ch có nguyện vọng xin ly hôn và mâu thuẫn của anh chị được địa phương xác nhận là đúng sự thật. Toà án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng anh C không đến Toà án làm việc và không có bản tự khai trình bầy ý kiến. Toà án đã hoãn phiên toà lần thứ nhất do vắng mặt bị đơn, vì vậy việc xét xử vắng mặt bị đơn lần thứ hai không có lý do là phù hợp với quy định tại điểm b Khoản 2 Điều 227, Khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
Do mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống không hạnh phúc, vì vậy việc chị Ch đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh C là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Qúa trình chung sống, chị Ch và anh C có một con chung là cháu Nguyễn Thị Thu U - Sinh ngày: 30/12/2008. Quá trình giải quyết vụ án, chị Ch có nguyện vọng nuôi dưỡng con chung cho đến khi cháu U đủ 18 tuổi. Chị Ch không yêu cầu cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Xét thấy, chị Ch có nguyện vọng nuôi dưỡng con chung, chị có mức thu nhập được địa phương xác nhận đảm bảo điều kiện nuôi dưỡng con chung. Toà án đã hỏi ý kiến và cháu U cũng có nguyện vọng ở cùng mẹ. Vì vậy cần giao cháu Nguyễn Thị Thu U cho chị Ch trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình, phù hợp với nguyện vọng của cháu U. Chị Ch không yêu cầu cấp dưỡng tiền nuôi con chung nên không xem xét giải quyết.
Về tài sản chung và công nợ chung: Chị Ch không yêu cầu giải quyết về tài sản chung, chị trình bầy không có công nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí: Chị Sầm Thị Tố Ch phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b Khoản 2 Điều 227, Khoản 3 Điều 228, Khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng Dân sự; Khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
1. Xử cho chị Sầm Thị Tố Ch ly hôn với anh Nguyễn Chí C.
Quan hệ hôn nhân giữa chị Sầm Thị Tố Ch và anh Nguyễn Chí C chấm dứt kể từ ngày bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
2. Về con chung: Xử giao cháu Nguyễn Thị Thu U- Sinh ngày: 30/12/2008 cho chị Sầm Thị Tố Ch trực tiếp nuôi dưỡng, trông nom, chăm sóc, giáo dục cho đến khi cháu U đủ 18 tuổi; Anh Nguyễn Chí C không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Sau khi ly hôn, anh Nguyễn Chí C có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
3. Về án phí: Chị Sầm Thị Tố Ch phải chịu tiền án phí ly hôn là 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0004234 ngày 24/3/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai. Chị Sầm Thị Tố Ch đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt ngU đơn, vắng mặt bị đơn. NgU đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tU án, bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND huyện V (2);
- THADS huyện V;
- UBND xã Khánh Yên H;
- Đương sự (02);
- Lưu HS, TA, VP .
Nguyễn Thị Hoàng Liên CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thị Hoàng Liên
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai; - VKSND huyện Văn Bàn (2); - THADS huyện Văn Bàn; - UBND xã Khánh Yên Hạ; - Đương sự (02); - Lưu HS, TA, VP . CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hoàng Liên THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Chng Liên THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Chng Liên |