- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hồ Thị Mộng L:
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LÃNG THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 37/2025/HNGĐ-ST Ngày 04-6-2025 V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LÃNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Huyền Trang;
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Hữu Bình,
2. Ông Vũ Đức Bình.
- Thư ký phiên toà: Ông Nghiêm Quang Trường - Thư ký Toà án nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Bùi Văn Tuân - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 6 năm 2025, tại Toà án nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 30/2025/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 3 năm 2025 về Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 23/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 4 năm 2025; Quyết định hoãn phiên toà số 25/2025/QĐST-HNGĐ ngày 14 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Hồ Thị Mộng L, sinh năm 19xx; nơi đăng ký HKTT: Số 52/37/18 L, phường H, Quận L, thành phố Hải Phòng; chỗ ở: Thôn Y, xã V, huyện T, thành phố Hải Phòng, vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Hồng P, sinh năm 19xx; nơi cư trú: Thôn 5, xã H, huyện T, thành phố Hải Phòng, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn (chị Hồ Mộng L) trình bày: Chị L và anh Nguyễn Hồng P tự nguyện kết hôn với nhau tại Ủy ban nhân dân xã Hùng Thắng, huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng vào ngày 11/01/2022. Anh chị chung sống với nhau hòa thuận được hơn 01 năm đầu thì mâu thuẫn phát sinh do tính tình không hợp, vợ chồng bất đồng quan điểm sống; một phần do anh P, không chăm lo gia đình, không quan tâm đến vợ con nên vợ chồng thường xuyên cãi nhau, cuộc sống hôn nhân không hạnh P. Do mâu thuẫn căng thẳng anh chị đã sống ly thân nhau từ đầu năm 2023 đến nay và không còn quan tâm tới nhau. Nhận thấy không còn tình cảm, không thể chung sống lâu dài được với nhau, chị L yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh P. Anh chị có 01 con chung là Nguyễn Hồng A, sinh ngày 01/6/2022. Kể từ khi sống ly thân đến nay con chung do chị L trực tiếp nuôi dưỡng. Khi ly hôn, chị L đề nghị Toà án tiếp tục giao con cho chị trực tiếp nuôi dưỡng. Việc cấp dưỡng cho con chị L xin tự giải quyết với anh P, không yêu cầu Toà án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, anh P trình bày, xác nhận về thời gian kết hôn, thời điểm sống ly thân, con chung là hoàn toàn đúng. Về nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng anh chị là do chị L nghi ngờ, không tin tưởng anh P trong cuộc sống hàng ngày nên vợ chồng thường xô sát, bất hoà, cuộc sống hôn nhân không hạnh P. Mặc dù anh chị đã sống ly thân nhau từ đầu năm 2023 nhưng anh P không đồng ý ly hôn chị L, vì mong muốn con chung của anh chị có đủ cả bố và mẹ. Anh chị có 01 con chung như chị L trình bày, trường hợp nếu phải ly hôn, anh P đề nghị Toà án giao con cho anh trực tiếp nuôi dưỡng, không yêu cầu chị L phải cấp dưỡng cho con nên không yêu cầu Toà án giải quyết. Anh chị không có tài sản chung, không yêu cầu Toà án giải quyết.
Tài liệu xác minh tại gia đình và địa phương thể hiện: Anh P và chị L có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Hùng Thắng vào năm 2022 theo quy định của pháp luật. Anh P có đăng ký hộ khẩu thường trú tại và sống tại Thôn 5, xã Hùng Thắng, huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng. Quá trình chung sống, anh chị sống hoà thuận được khoảng 01 năm đầu thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, một phần do anh P ham chơi, ít quan tâm tới gia đình nên anh chị thường xuyên bất hoà và đã sống ly thân nhau từ đầu năm 2023 đến nay, không còn quan tâm đến nhau. Anh chị có 01 con chung như chị L, anh P khai. Kể từ khi anh chị sống ly thân, con Hồng Anh do chị L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc tốt. Để ổn định tâm lý, sinh hoạt của cháu Hồng Anh, Toà án nên giao cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng cháu Hồng Anh khi anh chị ly hôn là phù hợp.
Tại phiên tòa, nguyên đơn vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, không có đơn xin xét xử vắng mặt. Các đương sự không ai có văn bản thể hiện việc thay đổi quan điểm của mình.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Thẩm phán đã thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ, thông báo về việc thu thập được chứng cứ, tài liệu, mở phiên họp, hoà giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử đúng quy định về thẩm quyền, thời hạn, trình tự, thủ tục tố tụng; phiên toà được mở đúng thời hạn, Hội đồng xét xử thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của đương sự theo quy định tại các điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa là chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của bị đơn được quy định tại các điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án: Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228, Điều 266, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Xử cho chị Hồ Thị Mộng L được ly hôn anh Nguyễn Hồng P; giao con Nguyễn Hồng A, sinh ngày 01/6/2022 cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Việc cấp dưỡng cho con và tài sản chung, anh chị không yêu cầu giải quyết nên không đề nghị xem xét, giải quyết. Chị L phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh Huyền tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về tố tụng:
Căn cứ yêu cầu khởi kiện của chị Hồ Thị Mộng L thì quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”; anh Nguyễn Hồng P là bị đơn, có nơi cư trú: Thôn 5, xã Hùng Thắng, huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tiên Lãng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Nguyên đơn (chị L) vắng mặt tại phiên toà nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn (anh P) đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, không có đơn xin vắng mặt tại phiên toà. Căn cứ khoản 2 Điều 227 và các khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vụ án vắng mặt chị L, anh P.
- Về nội dung:
Quan hệ hôn nhân giữa chị Hồ Thị Mộng L và anh Nguyễn Hồng P được xác lập từ ngày 11/01/2022 là hôn nhân hợp pháp. Nay chị L xin ly hôn, anh P không đồng ý ly hôn chị L. Xét thấy, lời khai của các đương sự phù hợp với nhau, phù hợp kết quả xác minh tại gia đình và địa phương, sự phù hợp đó thể hiện: Trong thời gian chung sống anh chị chung sống hoà thuận với nhau được 01 năm đầu thì mâu thuẫn phát sinh, do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên xô sát, bất hoà, không hạnh P. Mâu thuẫn vợ chồng anh chị đã được hai bên gia đình hoà giải nhưng không có kết quả, anh chị đã sống ly thân nhau từ đầu năm 2023 đến nay, không còn quan tâm đến nhau. Mặc dù anh P không đồng ly hôn chị L nhưng trong thời gian anh chị sống ly thân, anh P không có giải pháp nào để vợ chồng về đoàn tụ. Mặt khác, chị L khẳng định chị không còn tình cảm với anh P, không thể đoàn tụ, chung sống lâu dài cùng anh P. Do đó có đủ cơ sở khẳng định tình trạng hôn nhân giữa chị L và anh P đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được; yêu cầu ly hôn của chị L là có căn cứ, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình nên cần được chấp nhận, xử cho chị L được ly hôn anh P.
Về con chung: Anh chị có 01 con chung là Nguyễn Hồng A, sinh ngày 01/6/2022. Khi ly hôn, chị L, anh P đều đề nghị được trực tiếp nuôi con. Xét thấy, chị L, anh P đều có việc làm, có thu nhập, nơi ở ổn định, nên đều đủ điều kiện trực tiếp nhận nuôi con. Tuy nhiên, kể từ khi anh chị sống ly thân đến nay, cháu Hồng Anh do chị L trực tiếp nuôi dưỡng tốt; anh P thường xuyên đi làm ăn xa nên việc chăm sóc, nuôi dưỡng con của anh P bị hạn chế không đảm bảo bằng chị L; mọt phần do cháu Hồng Anh còn nhỏ cần được sự chăm sóc của mẹ nhiều hơn. Do đó để ổn định tâm lý, sinh hoạt, đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con, căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị L, giao con Nguyễn Hồng A cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng. Thời hạn nuôi con tính từ ngày 04/6/2025 cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Về việc cấp dưỡng cho con, các đương sự xin tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết, tôn trọng quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự, xét thấy quyền lợi của con vẫn được đảm bảo nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Về án phí: Theo quy định tại khoản 4 Điều 147; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, chị Hồ Thị Mộng L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 56; Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 266; Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án,
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hồ Thị Mộng L:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Hồ Thị Mộng L được ly hôn anh Nguyễn Hồng P.
2. Về con chung: Giao con Nguyễn Hồng A, sinh ngày 01/6/2022 cho chị Hồ Thị Mộng L trực tiếp nuôi dưỡng. Thời hạn nuôi con tính từ ngày 04/6/2025 cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Không giải quyết vấn đề cấp dưỡng cho con do các đương sự tự thoả thuận, không yêu cầu giải quyết.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết.
4. Về án phí: Chị Hồ Thị Mộng L phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Chị L đã nộp đủ 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí theo Biên lai thu số 0656519 ngày 14 tháng 3 năm 2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tiên Lãng.
5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - TAND thành phố Hải Phòng; - VKSND huyện Tiên Lãng; - Đương sự (để thi hành); - Chi cục THADS huyệnTiên Lãng; - UBND xã Hùng Thắng, huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng (ĐKKH số 02/2022); - Lưu: Hồ sơ, HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Huyền Trang |