- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Néang Cô L và anh Chau Sóc Th"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ cầu khởi kiện của Chị Néang Cô L.
- Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 37/2025/HNGĐ-ST Ngày: 25/4/2025 “V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình ly hôn, nuôi con chung ” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Minh Huyền
Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Lê Bảo Trúc;
2. Bà Lê Huỳnh Ngọc Lý.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Lê Ngọc Trân, thư ký Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Chau Pho Ly – Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 33/2025/TLST-HNGĐ, ngày 14 tháng 02 năm 2025 về việc “ Tranh chấp hôn nhân và gia đình ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 54/2025/QĐXXST- HNGĐ, ngày 28 tháng 3 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 37/2025/QĐST-HNGĐ, ngày 09/4/2025 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Néang Cô L, sinh năm 1998; địa chỉ: Tổ 10, ấp Tô Trung, xã Núi Tô, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang (có mặt);
2. Bị đơn: Anh Chau Sóc Th , sinh năm 1993; địa chỉ: Tổ 11, ấp Tô Trung, xã Núi Tô, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang (vắng mặt);
3. Người làm chứng: Bà Néang N, sinh năm 1961; địa chỉ: Tổ 11, ấp Tô Trung, xã Núi Tô, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang (vắng mặt);
4. Người phiên dịch: Ông Chau Kim S ; địa chỉ: Ấp Phnôm Pi, xã Châu Lăng, tỉnh An Giang (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và biên bản không tiến hành hòa giải được tại Tòa án chị Néang Cô L trình bày:
Về hôn nhân: Vào cuối năm 2015 thì chị và anh Th quen biết nhau do tự tìm hiểu đến đầu năm 2016 thì hai bên có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn số 62, ngày 12/6/2016 thì tại Ủy ban nhân dân xã Núi Tô, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang. Sau khi kết hôn thì về sống bên nhà chồng, một thời gian sau vợ chồng lên Đồng Nai sinh sống, thời gian đầu cuộc sống hạnh phúc đến năm 2021 thì vợ chồng xảy ra mâu thuẫn nguyên nhân do chồng thường xuyên nhậu nhẹt, đánh vợ và cờ bạc, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc nên vợ chồng xảy ra cự cải và sống ly thân từ đó cho đến nay, đến tháng 4/2024 thì chị trở về quê sinh sống cho đến hiện tại. Nay tình cảm không còn chị yêu cầu được ly hôn anh Th .
Về con chung: Có một con chung tên Néang K L, sinh ngày 26/12/2015. Hiện tại Cháu L đang sống bên chồng, khi ly hôn thì chị đồng ý giao Cháu L cho anh Th nuôi dưỡng và chị không cấp dưỡng nuôi con chung do anh Th không yêu cầu.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Người làm chứng bà Néang N cho biết: Bà là mẹ ruột của anh Th . Về mâu thuẫn của vợ chồng anh Th là do chị L quen người khác từ năm 2014 nên vợ chồng ly thân thừ đó cho đến nay. Hiện tại Cháu L đang do bà và anh Th nuôi dưỡng, hàng tháng anh Th có gửi tiền về để nuôi con và cũng thường xuyên về thăm con, còn chị L thì không có về thăm con và không chu cấp cho con gì cả.
Tòa án đã tiến hành đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự cho bị đơn anh Chau Sóc Th . Tuy nhiên, anh Th vẫn không tham gia tố tụng. Vì vậy, Tòa án không tiến hành hòa giải giữa các đương sự được.
Tại phiên tòa chị L vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, anh Th vắng mặt lần thứ hai không có lý do.
Hội đồng xét xử công bố biên bản lấy lời khai và kết quả xác minh về tình trạng hôn nhân, nơi cư trú của anh Th .
Phát biểu của Kiểm sát viên về việc tuân theo pháp luật tố tụng, quan điểm giải quyết vụ án:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng: Từ khi thụ lý giải quyết án Thẩm phán đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định tại Điều 35, Điều 68, Điều 97, Điều 227, của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội thẩm nhân dân đã thực hiện đúng quy định về xét xử phiên tòa sơ thẩm.
Về chấp hành pháp luật thì nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ, chấp hành đúng quy định tại Điều 71, còn bị đơn không thực hiện theo Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên bị đơn, người làm chứng đã được tống đạt hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt lần hai nên nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 2 Điều 229 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ hồ sơ vụ án, các tài liệu chứng cứ đã được Hội đồng xét xử xem xét và kết quả tranh luận của những người tham gia tố tụng tại phiên tòa, nhận thấy theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn có đủ cơ sở để chấp nhận yêu cầu khởi kiện.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Chị Néang Cô L khởi kiện yêu cầu ly hôn anh Chau Sóc Th có địa chỉ tại tổ 11, ấp Tô Trung, xã Núi Tô, huyện Tri Tôn tỉnh An Giang nên thuộc tranh chấp ly hôn và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về sự vắng mặt của bị đơn và người làm chứng: Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh Th và bà N. Tuy nhiên anh Th đã vắng mặt lần thứ hai và bà N đã có lời khai cho Tòa án. Xét đây là lần vắng mặt thứ hai của anh Th và bà N nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn và người làm chứng theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 2 Điều 229 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Về hôn nhân: Vào cuối năm 2015 chị L và anh Th quen biết nhau do tự tìm hiểu, có tổ chức đám cưới và có đăng ký kết hôn số 62, ngày 12/6/2016 tại Ủy ban nhân dân xã Núi Tô, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang nên đây là hôn nhân hợp pháp phù hợp theo Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình.
Theo lời khai của chị L cho rằng vợ chồng mâu thuẫn từ năm 2021 nguyên nhân do chồng thường xuyên nhậu nhẹt, đánh vợ và cờ bạc, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc nên vợ chồng xảy ra cự cải và sống ly thân từ đó cho đến nay, Nay tình cảm không còn chị yêu cầu được ly hôn anh Th .
Theo lời khai của bà Néang N (mẹ ruột của anh Th ) cho biết: Về mâu thuẫn của vợ chồng anh Th là do chị L quen người khác từ năm 2014 nên vợ chồng ly thân thừ đó cho đến nay. Hiện tại Cháu L đang do bà và anh Th nuôi dưỡng, hàng tháng anh Th có gửi tiền về để nuôi con và cũng thường xuyên về thăm con, còn chị L thì không có về thăm con và không chu cấp cho con gì cả.
Qua kết quả xác minh tại địa phương cho biết: Anh Th có đăng ký hộ khẩu thường trú tại địa phương. Hiện tại anh Th đã đi làm ăn xa nhưng thỉnh thoảng có đi về địa phương. Về mâu thuẫn vợ chồng của anh Th thì địa phương không biết do không nghe trình báo, chỉ biết hiện tại Cháu L đang do gia đình anh Th nuôi dưỡng, hiện anh Th và chị L có đi làm còn thu nhập bao nhiêu thì địa phương không biết.
Xét thấy, lời khai của chị L, các biên bản lời khai và biên bản xác minh phù hợp với nhau về việc vợ chồng có ly thân là sự thật nên việc trình bày của chị L cho rằng mâu thuẫn nguyên nhân do chồng thường xuyên nhậu nhẹt, đánh vợ và cờ bạc, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc nên chị yêu cầu ly hôn là có căn cứ. Mặc dù, chị L cho rằng ly thân từ năm 2021 còn bà N và địa phương cho rằng ly thân từ năm 2024 cho đến nay. Nhận thấy, thời gian ly thân hơn một năm cũng đủ dài để vợ chồng cùng hàn gắn tình cảm nhưng cả hai vẫn không thể hàn gắn được tình cảm vợ chồng đến nay thì chị L và anh Th vẫn còn ly thân đều đó chứng tỏ hai bên không có tiếng nói chung, cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc.
Cho nên, tình trạng hôn nhân của vợ chồng anh, chị đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, đủ căn cứ chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Lap theo Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Chị L và anh Th có một con chung Néang K L, sinh ngày 26/12/2015. Chị L đồng ý giao Cháu L cho anh Th nuôi dưỡng và chị không cấp dưỡng nuôi con chung.
Nhận thấy, hiện tại Cháu L đang ở bên nhà chồng do bà N và anh Th nuôi dạy và anh Th có đi làm nên có thu nhập đảm bảo cho việc nuôi dạy, chăm sóc Cháu L được ổn định. Đồng thời tại bản tự khai ngày 20/3/2025 Cháu L có nguyện vọng được tiếp tục ở với cha. Từ đó để đảm bảo cho môi trường sống của Cháu L được ổn định thì giao Cháu L cho anh Th tiếp tục nuôi dạy là phù hợp. Chị L không phải cấp dưỡng nuôi con do anh Th vắng mặt tại phiên tòa không ghi nhận được ý kiến, nên việc cấp dưỡng nuôi con sẽ được quyết định khi anh Th có yêu cầu phù hợp quy định tại khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình, xét chấp nhận.
Căn cứ Điều 58 Luật hôn nhân và gia đình thì sau khi ly hôn cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con theo quy định pháp luật mà không ai được quyền cản trở.
Trên cơ sở lợi ích của con, khi có yêu cầu của đương sự hoặc cá nhân, tổ chức, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí: Chị L khởi kiện xin ly hôn nên phải chịu án phí hôn nhân theo mức án phí không giá ngạch.
Anh Th không phải chịu án phí hôn nhân.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 9, Điều 56, Điều 58, khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39, Điều 144, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 2 Điều 229, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Chấp nhận toàn bộ cầu khởi kiện của Chị Néang Cô L.
Về hôn nhân: Chị Néang Cô L được ly hôn với anh Chau Sóc Th
Giấy chứng nhận kết hôn số 62, ngày 12/6/2016 tại Ủy ban nhân dân xã Núi Tô, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang không còn giá trị pháp lý.
Về con chung: Anh Chau Sóc Th được tiếp tục nuôi dạy con chung tên Néang K L, sinh ngày 26/12/ 2025. Chị Néang Cô L không phải cấp dưỡng nuôi con do anh Th vắng mặt không ghi nhận được ý kiến, nên việc cấp dưỡng nuôi con sẽ được quyết định khi anh Th có yêu cầu.
Sau khi ly hôn cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con theo quy định pháp luật mà không ai được quyền cản trở.
Trên cơ sở lợi ích của con, khi có yêu cầu của đương sự hoặc cá nhân, tổ chức, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí: Chị Néang Cô L phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tiền án phí hôn nhân, gia đình sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0013002 ngày 06/02/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tri Tôn.
Anh Chau Sóc Th không phải chịu án phí hôn nhân.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự có mặt có quyền kháng cáo đến Tòa án nhân dân tỉnh An Giang để yêu cầu xét xử phúc thẩm.
Riêng đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKS.ND huyện Tri Tôn; - THA.DS huyện Tri Tôn; - TAND Tỉnh An Giang; - Lưu Văn phòng; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Đỗ Minh Huyền |