vanban.org

Bản án 37/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Về hôn nhân: Chấp nhận đơn yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thuý T đối với anh Nguyễn Ngọc D.

Chị Nguyễn Thuý T được ly hôn với anh Nguyễn Ngọc D; chị T và anh D không còn quyền và nghĩa vụ của vợ chồng. [2] Về con chung: Giao cháu Nguyễn Hoàng D2, sinh ngày 15-3-2021 cho chị Nguyễn Thuý T tiếp tục trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng. Giao cháu Nguyễn Hoàng T3, sinh ngày 06-7-2018 ch… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn giữa chị Nguyễn Thúy T và anh Nguyễn Ngọc T"
  • Tòa quyết gì? [1] Về hôn nhân: Chấp nhận đơn yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thuý T đối với anh Nguyễn Ngọc D.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN G
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 37/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 31-3-2025.
V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM.

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN G, TỈNH TÂY NINH.

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Ngọc Vinh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Bà Nguyễn Thị Hiệp.

2/ Bà Trần Thị Đào.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Minh Nhựt Quang – Thư ký Tòa án nhân dân huyện G, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện G, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Đặng Ngô Anh Thư - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện G, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 631/2024/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 12 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thuý T, sinh năm 1997; địa chỉ: Ấp 2, xã B, huyện G, tỉnh Tây Ninh, có mặt;

Bị đơn: Anh Nguyễn Ngọc D, sinh năm 1997; địa chỉ: Khu phố T1, phường L, thị xã T2, tỉnh Tây Ninh; nơi ở hiện tại: Ấp S, xã P, huyện G, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ly hôn ngày 22-11-2024, biên bản lấy lời khai ngày 06-3-2025, và quá trình giải quyết vụ án, chị Nguyễn Thuý T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh D qua một thời gian tìm hiểu nhau thì tiến tới hôn nhân, tự nguyện chung sống vợ chồng với nhau vào năm 2020, đăng ký kết hôn vào ngày 16/10/2020 (Số đăng ký kết hôn 86 ngày 16/10/2020) tại Uỷ ban nhân dân phường L, thị xã T2, tỉnh Tây Ninh. Vợ chồng chung sống không hạnh phúc. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, mỗi người một suy nghĩ, không ai quan tâm đến ai, không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống; ngoài ra anh D thường xuyên đánh đập, chị đã cố gắng hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không được. Hiện tại chị và anh D đã ly thân 02 năm nay. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị ly hôn với anh D.

Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Hoàng D2, sinh ngày 15-3-2021 và cháu Nguyễn Hoàng T3, sinh ngày 06-7-2018. Hiện cháu D2 đang sống với chị, cháu T3 đang ở với anh D. Chị yêu cầu tiếp tục nuôi dưỡng cháu D2; giao cháu T3 cho anh D tiếp tục nuôi dưỡng. Chị không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị T trình bày không có, không yêu cầu toà án giải quyết.

Theo biên bản lấy lời khai của bị đơn- anh Nguyễn Ngọc D, ngày 24-02-2025 trình bày:

Anh D thống nhất về thời gian kết hôn, chung sống vợ chồng, thời gian ly thân, về con chung, tài sản chung và nợ chung như chị T trình bày. Anh xác định anh và chị T có xảy ra mâu thuẫn từ khi sinh con thứ 2. Nguyên nhân: Do khó khăn về kinh tế nên vợ chồng thường cự cãi, bất đồng về quan điểm sống. Nay chị T xin ly hôn, anh đồng ý ly hôn với chị T do vợ chồng mâu thuẫn đã đến mức trầm D, không còn hàn gắn đoàn tụ được.

Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Hoàng D2, sinh ngày 15-3-2021 và cháu Nguyễn Hoàng T3, sinh ngày 06-7-2018. Ly hôn anh yêu cầu được nuôi 02 con chung, không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con.

T i phiên tòa đ i diện iện ki m sát nhân dân huyện G phát bi u ý kiến:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử từ khi thụ lý vụ án cho đến khi xét xử: Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng và đầy đủ các trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự;

Về chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Các đương sự đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định pháp luật.

Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ các điều 51; 56; 58; 81; 82; 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 về mức thu, miễn, giảm, nộp và quản lý sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Đề nghị Hội đồng xét xử cho chị Nguyễn Thuý T được ly hôn với anh Nguyễn Ngọc D; về con chung: Đề nghị giao cháu Nguyễn Hoàng D2, sinh ngày 15-3-2021 cho chị Nguyễn Thuý T tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng; giao cháu Nguyễn Hoàng T3, sinh ngày 06/7/2018 cho anh Nguyễn Ngọc D tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng. Ghi nhận chị T, anh D không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con; về tài sản chung và nợ chung: Anh chị không yêu cầu Tòa án giải quyết. Chị T phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra t i phiên tòa và ý kiến trình bày của đương sự, Hội đồng xét xử xét thấy:

Về tố tụng: Anh Nguyễn Ngọc D có đơn yêu cầu tòa án giải quyết vắng mặt. Căn cứ Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh D.

Về nội dung vụ án:

Xét về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thuý T và anh Nguyễn Ngọc D qua một thời gian tìm hiểu nhau thì tiến tới hôn nhân, tự nguyện chung sống vợ chồng vào năm 2020, đăng ký kết hôn vào ngày 16/10/2020 (Số đăng ký kết hôn 86 ngày 16/10/2020) tại Uỷ ban nhân dân phường L, thị xã T2, tỉnh Tây Ninh. Quan hệ hôn nhân của anh chị là hợp pháp nên được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.

Xét về mâu thuẫn: Quá trình giải quyết vụ án, chị T trình bày vợ chồng chung sống không hạnh phúc. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, mỗi người một suy nghĩ, không ai quan tâm đến ai, không tìm được tiếng nói chung; ngoài ra anh D thường xuyên đánh đập chị. Chị T xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị ly hôn với anh D. Anh D thống nhất vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn. Nay chị T có yêu cầu ly hôn, anh đồng ý ly hôn với chị T.

Xét chị T, anh D đều trình bày thống nhất giữa anh chị có phát sinh mâu thuẫn, không còn tình cảm với nhau, không còn khả năng đoàn tụ. Đồng thời, cả hai đều có mong muốn được giải quyết ly hôn. Do đó, xác định hôn nhân của anh chị mâu thuẫn trầm D, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên xét xử cho anh chị được ly hôn.

Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Hoàng D2, sinh ngày 15-3-2021 và cháu Nguyễn Hoàng T3, sinh ngày 06-7-2018. Cháu D2 hiện đang sống cùng chị T, cháu T3 đang sống cùng anh D.

3.1 Xét yêu cầu được trực tiếp nuôi 02 con chung của anh D. Xét thấy, hiện tại cháu D2 đang ở ổn định cùng chị T, cháu T3 đang ở ổn định cùng anh D. Nghề nghiệp anh D đi làm công nhân trong công ty, thu nhập ở mức trung bình; thời gian đi làm có khi đi làm ca ngày, có khi đi làm ca đêm. Anh D sống chung cùng mẹ, mẹ anh D đi làm công ty nên việc chăm sóc đưa rước cháu T3 đi học thì anh D gửi đi học. Mặt khác, từ khi anh D và chị T ly thân 02 năm nay nhưng anh D không ghé thăm cháu D2, hay gửi tiền để phụ giúp cho chị T nuôi cháu D2 nên yêu cầu nuôi 02 con chung của anh D là không đảm bảo, nhất là các cháu còn nhỏ, chi phí sinh hoạt tốn kém. Từ những phân tích trên, yêu cầu nuôi 02 con chung của anh D là không có có căn cứ chấp nhận.

3.2 Xét yêu cầu được nuôi cháu D2 của chị T.

Xét thấy, hiện tại cháu D2 đang ở ổn định cùng chị T do chị T trực tiếp nuôi dưỡng, hơn nữa cháu D2 còn còn nhỏ cần sự chăm sóc ,nuôi dưỡng từ chị T. Để đảm bảo ổn định về mặt tâm lý, sinh hoạt và sự phát triển toàn diện mọi mặt của hai cháu, cần tiếp tục giao cháu D2 cho chị T tiếp tục trông nom, chăm sóc giáo dục, nuôi dưỡng; giao cháu T3 cho anh D tiếp tục trông nom, chăm sóc giáo dục, nuôi dưỡng là phù hợp.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị T, anh D xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

Đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát: Xét thấy đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với tình tiết, nội dung vụ án nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Chị Nuyễn Thuý T phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các điều 51; 56; 58; 81; 82; 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Điểm a, Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 về mức thu, miễn, giảm, nộp và quản lý sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

[1] Về hôn nhân: Chấp nhận đơn yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thuý T đối với anh Nguyễn Ngọc D.

Chị Nguyễn Thuý T được ly hôn với anh Nguyễn Ngọc D; chị T và anh D không còn quyền và nghĩa vụ của vợ chồng.

[2] Về con chung: Giao cháu Nguyễn Hoàng D2, sinh ngày 15-3-2021 cho chị Nguyễn Thuý T tiếp tục trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng. Giao cháu Nguyễn Hoàng T3, sinh ngày 06-7-2018 cho anh Nguyễn Ngọc D tiếp tục trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng. Ghi nhận chị T, anh D không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, chị T, anh D có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

[3] Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[4] Về án phí: Chị Nguyễn Thuý T phải chịu 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ tiền tạm ứng án phí chị T đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 10272 ngày 02-12-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện G, tỉnh Tây Ninh. Chị T đã nộp đủ án phí hôn nhân sơ thẩm.

[5] Các bên đương sự được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại địa phương nơi có trụ sở.

[6] Trường hợp, bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ