- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn giữa bà X với ông T"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Trúc X.
- Căn cứ chính? Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG PHÚ TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 37/2025/HNGĐ-ST Ngày: 28 - 3 - 2025 V/v Ly hôn và tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG PHÚ, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Thái Ngọc
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Võ Văn Phượng.
Ông Nguyễn Hồng Được.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hiền – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Dương Hồng Thủy - Kiểm sát viên.
Trong ngày 28 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 136/2024/TLST-HNGĐ, ngày 02 tháng 10 năm 2024 về việc “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trần Thị Trúc X, sinh năm 1981;
Nơi cư trú: Ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Sóc Trăng (có mặt);
- Bị đơn: Ông Lê Văn Bé T, sinh năm 1985;
Nơi cư trú: Ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt);
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện đề ngày 25/9/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Trần Thị Trúc X trình bày:
Bà Trần Thị Trúc X, ông Lê Văn Bé T chung sống như vợ chồng từ năm 2015. Sau đó mới tiến hành thủ tục kết hôn, đăng ký kết hôn tại UBND xã B, huyện C, tỉnh Sóc Trăng và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 151/2023 ngày 06/11/2023. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc và có 01 người con chung tên Trần Thị Thu T1, sinh ngày 30/01/2018. Bà Trần Thị Trúc X xác định vợ chồng không tạo lập được tài sản chung và không có nợ chung.
Nay bà Trần Thị Trúc X yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Về hôn nhân: Yêu cầu được ly hôn với ông Lê Văn Bé T.
- Về con chung: Bà Trần Thị Trúc X yêu cầu được nuôi dưỡng con chung tên Trần Thị Thu T1, sinh ngày 30/01/2018 đến khi thành niên và bà không yêu cầu ông Lê Văn Bé T phải cấp dưỡng cho con.
- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện bà Trần Thị Trúc X đã giao nộp các tài liệu, chứng cứ gồm có:
+ Căn cước công dân tên Trần Thị Trúc X, Lê Văn Bé T (photo đối chiếu);
+ Giấy khai sinh tên Trần Thị Thu T1, sinh ngày 30/01/2018 (photo đối chiếu);
+ Giấy chứng nhận kết hôn;
- Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Lê Văn Bé T thường xuyên không có mặt tại nơi cư trú nên thủ tục cấp tống đạt được thực hiện theo quy định tại khoản 5 Điều 177 và Điều 179 của của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Tuy nhiên ông Lê Văn Bé T không có văn bản trình bày ý kiến cũng như không đến Tòa án theo giấy triệu tập.
- Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành xác minh về hoàn cảnh gia đình, nguyên nhân phát sinh tranh chấp và nguyện vọng của vợ chồng, con trong vụ án.
Tại phiên tòa hôm nay,
* Nguyên đơn bà Trần Thị Trúc X vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn với ông Lê Văn Bé T; Yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Trần Thị Thu T1, sinh ngày 30/01/2018 đến khi thành niên và không yêu cầu Lê Văn Bé T phải cấp dưỡng cho con; Bà Trần Thị Trúc X xác định không có tài sản chung, không có nợ chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết. Bà Trần Thị Trúc X xác định tại phiên tòa hôm nay không còn tình cảm gì với ông Lê Văn Bé T nên không thể hàn gắn mâu thuẫn để vợ chồng đoàn tụ.
* Bị đơn ông Lê Văn Bé T vắng mặt.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Phú tại phiên tòa:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã chấp hành đúng pháp luật tố tụng dân sự. Từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn đã thực hiện quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Nhưng bị đơn chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Trần Thị Trúc X đối với ông Lê Văn Bé T.
Giao con chung tên Trần Thị Thu T1, sinh ngày 30/01/2018 cho bà Trần Thị Trúc X trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi thành niên; Ông Lê Văn Bé T không cấp dưỡng nuôi con do bà Trần Thị Trúc X không yêu cầu. Về tài sản chung và nợ chung: Không đặt ra xem xét.
Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Theo đơn khởi kiện lập ngày 25/9/2024, bà Trần Thị Trúc X yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông Lê Văn Bé T có nơi cư trú tại ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Sóc Trăng. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử xác định việc Tòa án nhân dân huyện Long Phú thụ lý, giải quyết vụ án theo trình tự sơ thẩm là đúng quy định của pháp luật về thẩm quyền giải quyết vụ án.
Về xét xử vắng mặt đối với đương sự: Bị đơn ông Lê Văn Bé T đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 và khoản 3 Điều 235 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt ông Lê Văn Bé T.
Xét yêu cầu của nguyên đơn bà Trần Thị Trúc X về việc ly hôn và tranh chấp về nuôi con.
Về quan hệ hôn nhân: Vào năm 2015 bà Trần Thị Trúc X cùng với ông Lê Văn Bé T tự nguyện chung sống với nhau như vợ chồng. Sau đó có đăng ký kết hôn tại UBND xã B, huyện C, tỉnh Sóc Trăng theo giấy chứng nhận kết hôn số 151/2023 ngày 06/11/2023. Theo Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử xác định quan hệ hôn nhân giữa bà Trần Thị Trúc X và ông Lê Văn Bé T là hợp pháp.
Theo trình bày của bà Trần Thị Trúc X: Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc và có con chung tên Trần Thị Thu T1, sinh ngày 30/01/2018 hiện đang do bà Trần Thị Trúc X là người trực tiếp nuôi dưỡng. Đến năm 2018 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn và mâu thuẫn kéo dài từ đó cho đến nay. Hiện tại vợ chồng không tạo lập được tài sản chung và không có nợ chung.
Về xác định nguyên nhân dẫn đến phát sinh tranh chấp, mâu thuẫn dẫn đến sống ly thân:ông Lê Văn Bé T không còn quan tâm đến bà Trần Thị Trúc X và hai người con. Bỏ mặc nhau muốn sống ra sao thì sống. Từ phân tích trên Hội đồng xét xử xét thấy: ông Lê Văn Bé T là người chồng đã bỏ mặc vợ và con không quan tâm đến việc hàn gắn tình cảm vợ chồng là vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của người chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó Tòa án đã tổ chức phiên hòa giải để vợ chồng cho bà Trần Thị Trúc X, ông Lê Văn Bé T hàn gắn tình cảm. Đến nay ông Lê Văn Bé T vẫn chưa có động thái nào để hàn gắn được tình cảm cũng như bà Trần Thị Trúc X vẫn cương quyết ly hôn. Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Trúc X cho bà Trần Thị Trúc X được ly hôn với cho ông Lê Văn Bé T.
Về con chung: Bà Trần Thị Trúc X xác định thời gian chung sống, vợ chồng con chung tên Trần Thị Thu T1, sinh ngày 30/01/2018. Hiện nay con chung tên Trần Thị Thu T1, sinh ngày 30/01/2018 do bà Trần Thị Trúc X đang trực tiếp nuôi dưỡng. Nội dung này cũng phù hợp với giấy khai sinh do Ủy ban nhân dân xã B cấp mang tên Trần Thị Thu T1, sinh ngày 30/01/2018.
Xét ý kiến của bà Trần Thị Trúc X về việc bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Trần Thị Thu T1, sinh ngày 30/01/2018. Không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Hiện nay bà Trần Thị Trúc X có nguồn thu nhập ổn định hằng tháng. Hội đồng xét xử thấy rằng hiện tại con chung đang do bà Trần Thị Trúc X trực tiếp nuôi dưỡng, nguyện vọng của con chung được sống với mẹ khi cha mẹ ly hôn và bà Trần Thị Trúc X cũng có nguyện vọng được nuôi dưỡng là phù hợp quy định tại khoản 3 Điều 81 của Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 nên được chấp nhận.
Về cấp dưỡng nuôi con: Hiện nay bà Trần Thị Trúc X xác định có nguồn thu nhập mỗi tháng nên đảm bảo cho việc nuôi con và không yêu cầu cấp dưỡng cho con nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Bên cạnh đó ông Lê Văn Bé T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở theo Điều 82 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Về tài sản chung: Bà Trần Thị Trúc X xác định không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết. Trong quá trình giải quyết vụ án, ông Lê Văn Bé T không có ý kiến hoặc đưa ra yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Về nợ chung: Bà Trần Thị Trúc X xác định không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Về án phí: Đây là vụ án ly hôn theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng Dân sự và quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án do đó trong vụ án ly hôn nguyên đơn phải chịu án phí sơ thẩm, không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Vì vậy bà Trần Thị Trúc X chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với vụ án ly hôn là 300.000 đồng.
Về quyền kháng cáo bản án: Căn cứ vào Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, bà Trần Thị Trúc X có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Ông Lê Văn Bé T được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Ý kiến của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Phú phát biểu tại phiên tòa về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án và phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án là có căn cứ và phù hợp với nội dung vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, khoản 3 Điều 235, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;
- Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 các điều 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Trúc X.
1/ Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Trúc X được ly hôn với ông Lê Văn Bé T.
2/ Về con chung: Giao con tên Trần Thị Thu T1, sinh ngày 30/01/2018 cho bà Trần Thị Trúc X trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục đến khi thành niên. Ông Lê Văn Bé T không phải cấp dưỡng cho con. Ông Lê Văn Bé T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
3/ Về tài sản chung: Không đặt ra xem xét.
4/ Về nợ chung: Bà Trần Thị Trúc X, ông Lê Văn Bé T xác định không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.
5/ Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Trần Thị Trúc X phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0006674, ngày 25/9/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng (Như vậy bà Trần Thị Trúc X đã thực hiện xong). Ông Lê Văn Bé T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
6/ Về quyền kháng cáo: Bà Trần Thị Trúc X có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án và ông Lê Văn Bé T được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Sóc Trăng (P.TTr, KT&THA); - VKSND huyện Long Phú; - Chi cục THADS huyện Long Phú; - Các đương sự; - UBND xã B; - Lưu hồ sơ vụ án; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Trương Thái Ngọc |