vanban.org

Bản án 37/2025/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND Q. Gò Vấp, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 17/01/2025 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần S 1. Bà Đinh Thị F có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S số tiền tính đến ngày 17/01/2025 gồm: Nợ gốc: 46.370.522 đồng; Nợ lãi quá hạn: 25.138.960 đồng. Tổng cộng: 71.509.482 đồng theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "tranh chấp hợp đồng vay tài sản"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN G
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 37/2025/DS-ST
Ngày: 17 - 01 - 2025
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN G, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hạnh.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Én và bà Nguyễn Thị Kim Anh.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngọc Diệp - Thư ký Toà án nhân dân quận G.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận G tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Phượng, Kiểm sát viên.

Ngày 17/01/2025, Tòa án nhân dân quận G xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 1096/2024/TLST-DS, ngày 23/10/2024. Về tranh chấp hợp đồng tín dụng, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 676/2024/QĐXXST-DS, ngày 12/12/2024, Quyết định hoãn phiên toà số 659/2024/QĐST-DS, ngày 31/12/2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần S; địa chỉ trụ sở chính: Số 266-268 đường N, phường V, Quận B.

Người đại diện hợp pháp: Ông Dương Văn T; chức vụ: Chuyên viên thu hồi nợ và thanh lý tài sản.

Giấy ủy quyền số 1950A/2024/UQ-TT.XLN, lập ngày 28/10/2024.

- Bị đơn: Bà Đinh Thị F; địa chỉ: Số 496/9/40 đường D, Phường S, quận G.

NHẬN THẤY:

1. Trong đơn khởi kiện Tòa án nhận ngày 23/8/2024 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, đại diện nguyên đơn, ông Dương Văn T trình bày:

Ngày 15/01/2019, bà F có ký với Ngân hàng Thương mại cổ phần S (Sau đây viết tắt là Ngân hàng) Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm Hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng (Sau đây viết tắt là Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng). Căn cứ thu nhập của bà F, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 40.000.000 đồng, mục đích vay tiêu dùng cá nhân. Lãi suất trong hạn là 2,76%/tháng; Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn là 4,14%/tháng.

Do thẻ tín dụng có đặc điểm là sau khi thanh toán dư nợ, hạn mức tín dụng sẽ được phục hồi lại hạn mức trên số tiền đã thanh toán. Hàng tháng, khi đến hạn thanh toán, khách hàng thanh toán vào sau đó khi thẻ được hồi phục hạn mức, khách hàng lại sử dụng thẻ tiếp tục nên số tiền giao dịch từ lúc được cấp thẻ từ ngày 15/01/2019 đến nay lên đến 1.959.966.636 đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay bà F đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 1.921.788.000 đồng. Sau đó, bà F vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên ngày 23/12/2023 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (Điều 24 của bàn Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Tính đến ngày 17/01/2025, bà F còn nợ các khoản sau: Nợ gốc: 46.370.522 đồng; Nợ lãi quá hạn: 25.138.960 đồng. Tổng cộng: 71.509.482 đồng.

Ngân hàng khởi kiện yêu cầu:

1. Buộc bà Đinh Thị F phải trả cho Ngân hàng tổng số tiền tính đến ngày 17/01/2025 là 71.509.482 đồng.

2. Bà Đinh Thị F có trách nhiệm thanh toán khoản lãi quá hạn phát sinh từ ngày 18/01/2025 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng. Trả tiền một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.

2. Bị đơn - Bà Đinh Thị F không có ý kiến phản đối đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng.

3. Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận G, có ý kiến:

- Về việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự: Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử cũng như các đương sự chấp hành đúng trình tự, thủ tục tố tụng do Bộ luật tố tụng dân sự quy định.

- Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ quy định của pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng. Đương sự chịu án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phòng nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền của Tòa án: Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bà F trả nợ vay từ Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng. Bà F có nơi cư trú cuối cùng tại quận G. Căn cứ Điều 26, Điều 35 và Điều 40 Bộ luật tố tụng dân sự, đây là quan hệ tranh chấp về hợp đồng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận G.

Về người tham gia tố tụng:

Đại diện Ngân hàng có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Yêu cầu của Ngân hàng phù hợp quy định tại Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự nên Hội đồng xét xử chấp nhận

Bị đơn - bà Đinh Thị F được Tòa án triệu tập hợp lệ hai lần nhưng vắng mặt không có lý do. Vì vậy, căn cứ khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt đối với đương sự nêu trên.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Căn cứ lời khai của đương sự cũng như căn cứ tài liệu, chứng cứ do Ngân hàng cung cấp, có cơ sở để Hội đồng xét xử xác định:

Ngày 15/01/2019, bà F có ký với Ngân hàng Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng. Như vậy, giữa Ngân hàng và bà F có giao dịch về tài sản là tiền thông qua Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng nêu trên.

Sau khi Tòa án thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Bà F không nộp (gửi) cho Toà án văn bản ghi ý kiến của mình và không nộp các tài liệu chứng cứ kèm theo (nếu có) để phản bác đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng. Bà F vắng mặt tại các buổi làm việc do Tòa án triệu tập và cũng không cung cấp chứng cứ chứng minh đã trả nợ vay. Điều đó thể hiện, bà F còn nợ Ngân hàng số tiền tính đến ngày 17/01/2025, gồm: Nợ gốc: 46.370.522 đồng; nợ lãi quá hạn: 25.138.960 đồng. Tổng cộng là 71.509.482 đồng. Do đó, có cơ sở đề Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng về việc buộc bà F trả nợ vay.

Do bà F vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên Ngân hàng yêu cầu trả tiền ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật, Hội đồng xét xử chấp nhận.

Căn cứ Điều 24 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng, Ngân hàng yêu cầu bà F có nghĩa vụ tiếp tục thanh toán khoản lãi quá hạn phát sinh từ ngày 18/01/2025 cho đến khi trả hết nợ vay cho Ngân hàng là có cơ sở đề Hội đồng xét xử chấp nhận

Từ những phân tích trên, xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí dân sự sơ thẩm:

Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng được chấp nhận, Ngân hàng không phải chịu án phí.

Bà F phải chịu án phí tương ứng với phần yêu cầu của Ngân hàng được Tòa án chấp nhận. Cụ thể, bà F có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng số tiền 71.509.482 đồng, án phí dân sự sơ thẩm phải nộp là 5% giá trị tài sản có tranh chấp là 3.575.474 đồng.

Về nghĩa vụ thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ Điều 5, khoản 3 Điều 26, Điểm a khoản 1 Điều 35, Điểm a khoản 1 Điều 40, Điều 147, Điều 177, Điều 179, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 và Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ Điều 91, Điều 95 và Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;

- Căn cứ Luật thi hành án dân sự năm 2008;

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần S

1.1. Bà Đinh Thị F có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S số tiền tính đến ngày 17/01/2025 gồm: Nợ gốc: 46.370.522 đồng; Nợ lãi quá hạn: 25.138.960 đồng. Tổng cộng: 71.509.482 đồng theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng, lập ngày 15/01/2019 giữa bà F với Ngân Hàng và bàn Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng Thương mại cổ phần S.

1.2. Bà Đinh Thị F có nghĩa vụ tiếp tục trả tiền lãi quá hạn phát sinh (4,14%/tháng) cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S từ ngày 18/01/2025 cho đến khi trả hết nợ vay theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng nêu trên.

Trả tiền một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S số tiền tạm ứng án phí là 1.526.408 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0014794, ngày 23/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự quận G.

- Bà Đinh Thị F phải nộp án phí dân sự sơ thẩm là 3.575.474 đồng.

3. Quyền kháng cáo: Đương sự được quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết tại chính quyền địa phương.

4. Về nghĩa vụ thi hành án:

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ