- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị B về việc yêu cầu ông Võ Văn T, bà Trần Thị P trả số tiền hụi và vàng vay.
- Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH KIÊN GIANG Bản án số: 37/2025/DS-ST Ngày 08 tháng 5 năm 2025 V/v Tranh chấp hợp đồng vay tài sản. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG.
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Thanh Toàn
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hồ Thị Hoa
Bà Phạm Thị Việt Hồng
- Thư ký phiên tòa: Ông Cao Vũ Linh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Minh: Không tham gia.
Ngày 08 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 34/2025/TLST-DS, ngày 10 tháng 02 năm 2025, về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 80/2025/QĐXXST-DS, ngày 26 tháng 3 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 72/2025/QĐST-DS ngày 16 tháng 4 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lê Thị B, sinh năm 1974 (Có mặt)
Địa chỉ: ấp X, xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang
- Bị đơn: Ông Võ Văn T, sinh năm 1970 và bà Trần Thị P, sinh năm 1972 (Ông T có đơn xin giải quyết vụ án vắng mặt, bà P có mặt)
Địa chỉ: ấp N, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo hồ sơ vụ án và tại phiên tòa Nguyên đơn bà Lê Thị B trình bày:
Bà Lê Thị B và vợ chồng ông Võ Văn T, bà Trần Thị P là chỗ quen biết nhau và được biết vợ chồng ông T, bà P có tổ chức chơi hụi tại địa phương nên bà B có tham gia một số dây hụi do vợ chồng ông T, bà P làm chủ. Quá trình tham gia chơi hụi, vợ chồng bà còn nợ tiền hụi bà B, sau đó giữa bà B và vợ chồng ông T bà P thỏa thuận chuyển tiền nợ hụi sang tiền nợ vay, việc thỏa thuận được xác nhận tại Giấy cam kết nhận nợ, ngày 11/11/2023 (al), theo đó vợ chồng ông T, bà P xác nhận còn nợ của bà B với tổng số tiền 218.000.000đ, thỏa thuận mỗi tháng sẽ trả cho bà B 15.000.000đ, trả dần đến khi hết nợ.
Tuy nhiên, quá trình thực hiện việc trả nợ cho bà B, vợ chồng ông T, bà P vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Bà B đã nhiều lần liên hệ với vợ chồng ông T, bà P yêu cầu thực hiện đúng như cam kết ngày 11/11/2023 nhưng vợ chồng ông T, bà P cố tình trì hoãn, đến nay vẫn chưa trả cho bà B bất kỳ số tiền nào.
Bà B có đơn gửi đến Ban lãnh đạo nơi cư trú của ông T, bà P là ấp N, xã Đ để yêu cầu giải quyết về việc buộc vợ chồng bà P hoàn trả số tiền nợ nói trên cho bà B nhưng vợ chồng bà P cố tình tránh mặt, nhằm trốn tránh nghĩa vụ trả số nợ trên cho bà B.
Nay bà Lê Thị B yêu cầu Tòa án nhân dân huyện An Minh xem xét giải quyết buộc ông Võ Văn T và bà Trần Thị P phải trả cho bà B số tiền vay còn nợ là 218.000.000đ, trả trong một lần và không yêu cầu tính lãi.
* Bị đơn ông Võ Văn T có đơn xin xét xử vắng mặt nhưng trong bản tự khai thể hiện: Ông T và vợ là Trần Thị P còn nợ bà Lê Thị B với số tiền là 218.000.000đ. Do công việc làm ăn không thuận lợi, yêu cầu bà B cho vợ chồng ông trả dần đến khi trả hết số tiền vay nói trên.
Tại phiên Tòa, Nguyên đơn bà Lê Thị B giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bà Trần Thị P, tuy nhiên bà P đều vắng mặt tại các buổi công khai chứng cứ và hòa giải. Tại phiên Tòa hôm nay, bà P thừa nhận còn nợ của bà B với tổng số tiền 218.000.000đ. Bà P yêu cầu bà B cho vợ chồng bà trả dần số nợ nói trên đến khi hết nợ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng: Bị đơn ông Võ Văn T, bà Trần Thị P có hộ khẩu thường trú tại ấp N, xã Đ, huyện A, theo quy định tại Điều 35, 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang.
Về sự vắng mặt của các đương sự:
- Bị đơn ông Võ Văn T vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử khi đương sự vắng mặt theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án: Quá trình làm việc cũng như tại phiên tòa, bà Lê Thị B yêu cầu vợ chồng ông Võ Văn T, bà Trần Thị P trả cho bà B số tiền vay còn nợ là 218.000.000đ, yêu cầu trả trong 1 lần, không yêu cầu tính lãi. Từ đó có đủ căn cứ để xác định quan hệ tranh chấp liên quan đến số tiền trên là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” được quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Điều 471 Bộ luật dân sự năm 2015.
Về nội dung: Tại phiên tòa bà Lê Thị B vẫn giữ nguyên yêu cầu Tòa án giải quyết buộc vợ chồng ông T, bà P trả cho bà B số tiền vay còn nợ là 218.000.000đ, yêu cầu trả một lần và không yêu cầu tính lãi. Số tiền vay bà B yêu cầu vợ chồng ông T, bà P trả cho bà B là phù hợp với số tiền ông T thừa nhận còn nợ của bà B tại Bản tự khai vào ngày 25/3/2025 và tại phiên tòa hôm nay bà P xác nhận còn nợ của bà B với tổng số tiền 218.000.000đ. Đây là tình tiết đã được các đương sự thừa nhận, do đó đây là tình tiết không cần phải chứng minh theo điểm a khoản 1 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự.
Ngày 12/3/2025, Tòa án ban hành Thông báo số 08/2025/TB-TA về việc yêu cầu ông T, bà P trình bày ý kiến và cung cấp tài liệu, chứng cứ liên quan đến yêu cầu khởi kiện của bà B nhưng đến thời điểm mở phiên tòa, bà P, ông T vẫn không cung cấp bất kỳ tài liệu chứng cứ nào liên quan đến yêu cầu khởi kiện của bà B, tuy nhiên tại phiên Tòa, bà P thừa nhận còn nợ của bà B với tổng số tiền 218.000.000đ.
Tại bản tự ngày 25/3/2025 cũng như tại phiên Tòa hôm nay, ông T và bà P đều có ý kiến yêu cầu bà B cho vợ chồng ông bà được trả dần số tiền nói trên đến khi hết nợ. Tuy nhiên tại phiên tòa, yêu cầu này của ông T và bà P không được bà B chấp nhận do đó Hội đồng xét xử không có cơ sở xem xét.
Căn cứ vào khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Điều 463, Điều 466 và Điều 471 Bộ luật dân sự năm 2015, xét thấy yêu cầu khởi kiện của bà B, buộc vợ chồng ông T, bà P trả cho bà B số tiền là 218.000.000đ là có căn cứ chấp nhận.
Về án phí: 218.000.000đ x 5% = 10.900.000đ. Buộc ông T, bà P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; Hoàn trả lại tiền tạm ứng án phí cho bà Lê Thị B.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; Khoản 2 Điều 92, Điều 93; khoản 3 Điều 144; Điều 147; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Điều 463, Điều 466 và Điều 471 Bộ luật dân sự năm 2015;
- Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị B về việc yêu cầu ông Võ Văn T, bà Trần Thị P trả số tiền hụi và vàng vay.
1. Buộc ông Võ Văn T, bà Trần Thị P trả cho bà Lê Thị B số tiền là 218.000.000đ (Hai trăm mười tám triệu đồng).
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án thì người phải thi hành án còn phải trả lãi theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 của bộ luật dân sự 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
2. Về án phí: Buộc ông Võ Văn T, bà Trần Thị P nộp 10.900.000đ (Mười triệu chín trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Hoàn trả cho bà Lê Thị B số tiền tạm ứng án phí là 5.450.000đ (Năm triệu bốn trăm năm mươi nghìn đồng) theo biên lai thu số 0005353, ngày 07/02/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang.
3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, Bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định.
Trường hợp bản án, quyết định thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi bổ sung.
| Nơi nhận: - TA tỉnh Kiên Giang; - Viện kiểm sát An Minh; - Chi cục Thi hành án An Minh; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thanh Toàn |