vanban.org

Bản án 37/2025/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Việt Nam T đối với ông Nguyễn Văn Xuân M.

Buộc ông Nguyễn Văn Xuân M phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP Việt Nam T số tiền tính đến ngày 25.7.2025 là 331.802.808 đồng (nợ gốc là 225.099.875 đồng, tiền lãi trong hạn là 94.879.103 đồng, tiền lãi quá hạn là 11.823.830 đồng). Kể từ ngày 26.7.2025, ông Nguyễn Văn Xuân M còn phải tiếp tục trả tiề… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Tranh chấp HĐTD giữa NH VNTV và ông Nguyễn Văn Xuân M"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Việt Nam T đối với ông Nguyễn Văn Xuân M.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 37/2025/DS-ST
Ngày 25 - 7 - 2025
V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Diện

Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Đích và ông Hà Đồng Tịnh.

Thư ký phiên tòa: Bà Trương Ngọc Thảo Nguyên - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 2 - Đà Nẵng.

Ngày 25 tháng 7 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 2 - Đà Nẵng tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 105/2025/TLST-DS ngày 29.4.2025 về việc“Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 105/2025/QĐXXST-DS ngày 20.6.2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 105/2025/QĐST-DS ngày 03.7.2025, giữa:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Việt Nam T. Địa chỉ: 89 L, Phường Đ, Thành phố Hà Nội. Người đại diện theo ủy quyền là ông Lê Văn Tùng, Đỗ Thành Đạt, Nguyễn Văn Chính. Chức vụ: Trưởng bộ phận Xử lý nợ, Chuyên viên xử lý nợ - Phòng xử lý nợ Phản ứng nhanh Khách hàng cá nhân - Trung tâm thu hồi nợ Khách hàng cá nhân - Ngân hàng TMCP Việt Nam T. Địa chỉ: Tầng 4, số 112 P, thành phố Đà Nẵng (Văn bản ủy quyền số: 10/2025/UQN-CTQT ngày 12.02.2025 và Văn bản ủy quyền số: 8001/2025/UQ-KHCN ngày 09.4.2025), có mặt.

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn Xuân M, sinh năm 1975. Địa chỉ: Tổ 36, phường A, quận S, thành phố Đà Nẵng (nay là phường A, thành phố Đà Nẵng), vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 09.4.2025 và lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn là Ngân hàng TMCP Việt Nam T trình bày:

Giữa Ngân hàng TMCP Việt Nam T và ông Nguyễn Văn Xuân M đã ký kết Hợp đồng cho vay số: LD2334202152 ngày 08.12.2023. Theo hợp đồng thì ông Nguyễn Văn Xuân M vay số tiền 225.100.000 đồng; mục đích vay phục vụ đời sống, thanh toán phí bảo hiểm, mua bảo hiểm; trả nợ gốc định kỳ 01 tháng/lần trong 48 kỳ, bắt đầu từ ngày 08.01.2025; trả tiền lãi định kỳ 01 tháng/lần trong 60 kỳ, bắt đầu từ ngày 08.01.2024; lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm giải ngân là 31%/năm; sau thời hạn 12 tháng, lãi suất cho vay trong hạn được điều chỉnh là 35%/năm và cố định trong suốt thời gian vay; lãi quá hạn bằng 150% lãi suất vay trong hạn.

Kể từ khi vay tiền, ông Nguyễn Văn Xuân M chỉ thanh toán được số tiền lãi tổng cộng là 19.500.370 đồng. Mặc dù Ngân hàng TMCP Việt Nam T đã nhắc nhở, yêu cầu nhưng ông Nguyễn Văn Xuân M không thực hiện nghĩa vụ trả nợ như đã thỏa thuận. Vì vậy, Ngân hàng TMCP Việt Nam T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc ông Nguyễn Văn Xuân M phải thanh toán số tiền còn nợ tạm tính đến ngày 25.7.2025 là 331.802.808 đồng (nợ gốc là 225.099.875 đồng, tiền lãi trong hạn là 94.879.103 đồng, tiền lãi quá hạn là 11.823.830 đồng) và phải tiếp tục trả tiền lãi phát sinh theo hợp đồng cho vay đã ký kết, kể từ ngày 26.7.2025 cho đến khi thanh toán xong nợ.

Ông Nguyễn Văn Xuân M đã được Tòa án thực hiện thủ tục thông báo về việc thụ lý vụ án; thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng không có ý kiến phản hồi về yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Việt Nam T và không đến Tòa án để giải quyết vụ việc.

Tại phiên tòa:

Nguyên đơn Ngân hàng TMCP Việt Nam T giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Bị đơn ông Nguyễn Văn Xuân M đã được triệu tập để tham gia tố tụng nhưng vắng mặt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Ngân hàng TMCP Việt Nam T khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Văn Xuân M thanh toán nợ theo Hợp đồng cho vay. Đây là tranh chấp về hợp đồng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. Ông Nguyễn Văn Xuân M cư trú tại địa chỉ tổ 36, phường A, thành phố Đà Nẵng. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì Tòa án nhân dân Khu vực 2 - Đà Nẵng thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.

Về sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn là ông Nguyễn Văn Xuân M đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia tố tụng tại phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ các Điều 227 và 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo thủ tục chung.

Về nội dung:

Về việc xác lập hợp đồng: Hợp đồng cho vay số: LD2334202152 mà Ngân hàng TMCP Việt Nam T ký với ông Nguyễn Văn Xuân M ngày 08.12.2023 thỏa mãn các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng dân sự theo quy định tại các Điều 117, 119 của Bộ luật Dân sự năm 2015 và phù hợp với quy định của Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) nên có hiệu lực pháp luật đối với các bên tham gia ký kết.

Về yêu cầu thanh toán: Mặc dù ông Nguyễn Văn Xuân M vắng mặt và không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Việt Nam T. Tuy nhiên, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ do Ngân hàng TMCP Việt Nam T cung cấp, Hội đồng xét xử xét thấy: Hợp đồng vay tiền mà ông Nguyễn Văn Xuân M ký với Ngân hàng TMCP Việt Nam T có mục đích phục vụ đời sống và thanh toán phí bảo hiểm, mua bảo hiểm; số tiền vay là 225.100.000 đồng; lãi suất vay trong hạn tại thời điểm giải ngân là 31%/năm; sau 12 tháng kể từ thời điểm giải ngân, lãi suất được điều chỉnh là 35%/năm và được cố định trong suốt thời hạn cho vay còn lại; lãi quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn; trả nợ gốc định kỳ 01 tháng/lần trong 48 kỳ, bắt đầu từ ngày 08.01.2025; trả tiền lãi định kỳ 01 tháng/lần trong 60 kỳ, bắt đầu từ ngày 08.01.2024. Quá trình thực hiện hợp đồng, ông Nguyễn Văn Xuân M chỉ thanh toán được số tiền lãi là 19.500.370 đồng và chưa trả tiền gốc khi đến kỳ trả nợ. Do ông Nguyễn Văn Xuân M vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Ngân hàng TMCP Việt Nam T chuyển phần dư nợ gốc sang nợ quá hạn, kể từ ngày đến hạn trả nợ là đúng với quy định tại Điều 6 Phần B - Bản điều kiện giao dịch chung về vay từng lần và/hoặc vay theo hạn mức thuộc Điều kiện giao dịch chung về cấp tín dụng dành cho khách hàng cá nhân tại VP (gắn liền với Hợp đồng cho vay số: LD2334202152 ngày 08.12.2023). Tính đến ngày 25.7.2025, ông Nguyễn Văn Xuân M còn nợ Ngân hàng TMCP Việt Nam T số tiền là 331.802.808 đồng. Trong đó, nợ gốc là 225.099.875 đồng, tiền lãi trong hạn là 94.879.103 đồng, tiền lãi quá hạn là 11.823.830 đồng.

Căn cứ vào khoản 8 Điều 2 Hợp đồng cho vay số: LD2334202152 ngày 08.12.2023 và Điều 7 Phần B - Bản điều kiện giao dịch chung về vay từng lần và/hoặc vay theo hạn mức thuộc Điều kiện giao dịch chung về cấp tín dụng dành cho khách hàng cá nhân tại VP thì ông Nguyễn Văn Xuân M đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Việc Ngân hàng TMCP Việt Nam T khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Văn Xuân Minh phải thanh toán nợ là phù hợp với quy định tại Điều 103 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2024 và Điều 280, 463 và 466 của Bộ luật Dân sự 2015 cần được chấp nhận. Do đó, buộc ông Nguyễn Văn Xuân Minh phải trả cho Ngân hàng TMCP Việt Nam T số tiền tính đến ngày 25.7.2025 là 331.802.808 đồng như đã nêu trên và phải tiếp tục trả tiền lãi, kể từ ngày 26.7.2025 cho đến khi thanh toán xong nợ theo mức lãi suất mà các bên đã thỏa thuận tại Hợp đồng cho vay ký kết.

Về án phí: Căn cứ Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu và quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Do yêu cầu của Ngân hàng TMCP Việt Nam T được chấp nhận nên ông Nguyễn Văn Xuân M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 16.590.140 đồng (331.802.808 đồng x 5%). Hoàn trả lại Ngân hàng TMCP Việt Nam T số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; các Điều 147, 227, 228, 266, 269 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ vào Điều 100, 103 và 209 của Luật các Tổ chức tín dụng năm 2024;

- Căn cứ vào Điều 280, 463 và 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

- Căn cứ Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu và quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Việt Nam T đối với ông Nguyễn Văn Xuân M.

Xử:

1. Buộc ông Nguyễn Văn Xuân M phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP Việt Nam T số tiền tính đến ngày 25.7.2025 là 331.802.808 đồng (nợ gốc là 225.099.875 đồng, tiền lãi trong hạn là 94.879.103 đồng, tiền lãi quá hạn là 11.823.830 đồng).

Kể từ ngày 26.7.2025, ông Nguyễn Văn Xuân M còn phải tiếp tục trả tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất mà các bên đã thỏa thuận tại Hợp đồng cho vay ký kết ngày 08.12.2023 cho đến khi trả xong nợ. Trường hợp trong hợp đồng cho vay, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

2. Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm ông Nguyễn Văn Xuân M phải chịu là 16.590.140 đồng. Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP Việt Nam T số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 7.639.607 đồng theo Biên lai thu số 0007953 ngày 28.4.2025 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng.

3. Về quyền kháng cáo:

Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ