- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ngân hàng TMCP S "Tranh chấp HĐ tín dụng" với bà Trần Lệ T1"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S đối với bà Trần Lệ T1 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 37/2025/DS-ST Ngày: 09 - 7 - 2025 V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 – TP.HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Xuân Hương
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Võ Hoàng Thu
2. Bà Nguyễn Thị Nguyên
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Tâm – Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 10, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 10, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Ngô Hoàng Phương Đại – Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 7 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 10, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 1144/2024/TLST– DS ngày 30 tháng 12 năm 2024 về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 496/2025/QĐXXST–DS ngày 21 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 437/2025/QĐST–DS ngày 10 tháng 6 năm 2025 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần S
Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D – Chức danh: Tổng Giám đốc
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Vũ Minh Q – Chức vụ: Giám đốc Trung tâm Xử lý Nợ
(Văn bản ủy quyền ngày 22/5/2024)
Ủy quyền lại cho: Ông Dương Văn T2, sinh năm 1987
(Văn bản ủy quyền ngày 10/12/2024)
Địa chỉ trụ sở: Phường V, Quận B, Thành phố H.
Nay địa chỉ mới là: Phường X, Thành phố H.
2. Bị đơn: Bà Trần Lệ T1, sinh năm 1997
Địa chỉ: Ấp B, xã A, huyện C, Thành phố H.
Nay địa chỉ mới là: Ấp B, xã V, Thành phố H.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 23/9/2024 và trong quá trình giải quyết, nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S do ông Dương Văn T2 đại diện theo ủy quyền trình bày:
Ngày 13/9/2023 bà Trần Lệ T1 có ký Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng, Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S (sau đây gọi chung là Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày 13/9/2023) với Ngân hàng Thương mại Cổ phần S (gọi tắt là Ngân hàng S). Căn cứ vào thu nhập của bà T1, Ngân hàng S đã đồng ý cấp cho bà T1 01 (một) Thẻ tín dụng Visa, số thẻ 472074-9521, hạn mức sử dụng là 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng), mục đích tiêu dùng cá nhân.
Kể từ ngày được cấp và kích hoạt thẻ tín dụng, bà T1 đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 49.900.000 đồng (Bốn mươi chín triệu chín trăm nghìn đồng) và chỉ thanh toán lại cho Ngân hàng S số tiền 3.359.970 đồng (Ba triệu ba trăm năm mươi chín nghìn chín trăm bảy mươi đồng) theo thứ tự thanh toán được quy định tại Điều 20 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S. Sau đó, bà T1 đã không tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận mặc dù đã được Ngân hàng S nhiều lần nhắc nhở.
Do bà T1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán được quy định tại Điều 2 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S nên ngày 06/3/2024 Ngân hàng S đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ của bà T1. Đồng thời, Ngân hàng S đã chuyển toàn bộ dư nợ tính đến ngày 06/3/2024 của bà T1 là 56.255.835 đồng (Năm mươi sáu triệu hai trăm năm mươi lăm nghìn tám trăm ba mươi lăm đồng) thành nợ gốc và áp dụng mức lãi suất nợ quá hạn tính trên nợ gốc là 4,14%/tháng theo quy định tại Điều 23 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S.
Nay Ngân hàng S yêu cầu bà T1 phải thanh toán cho Ngân hàng S số tiền còn nợ của Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày 13/9/2023 tính đến ngày 22/8/2024 là 69.482.175 đồng (Sáu mươi chín triệu bốn trăm tám mươi hai nghìn một trăm bảy mươi lăm đồng), trong đó dư nợ gốc là 56.255.835 đồng (Năm mươi sáu triệu hai trăm năm mươi lăm nghìn tám trăm ba mươi lăm đồng) và tiền lãi quá hạn là 13.226.340 đồng (Mười ba triệu hai trăm hai mươi sáu nghìn ba trăm bốn mươi đồng). Ngoài ra, bà T1 còn phải thanh toán cho Ngân hàng S tiền lãi phát sinh theo quy định tại Hợp đồng đã ký từ ngày 23/8/2024 cho đến khi trả hết nợ.
Đồng thời, do bận công việc nên ông Dương Văn T2 là người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng S yêu cầu được xét xử vắng mặt.
Bị đơn bà Trần Lệ T1 đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, nhưng bà T1 vẫn vắng mặt, không rõ lý do; bà T1 cũng không cung cấp cho Tòa án văn bản thể hiện ý kiến về yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S.
Do nguyên đơn có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải nên vụ án không hòa giải được.
Tại phiên tòa,
- Nguyên đơn Ngân hàng S vắng mặt, nhưng có văn bản yêu cầu bà Trần Lệ T1 phải thanh toán cho Ngân hàng S tổng số tiền còn nợ của Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày 13/9/2023 tính đến ngày 09/7/2025 là 94.456.617 đồng (Chín mươi bốn triệu bốn trăm năm mươi sáu nghìn sáu trăm mười bảy đồng), trong đó dư nợ gốc là 56.255.835 đồng (Năm mươi sáu triệu hai trăm năm mươi lăm nghìn tám trăm ba mươi lăm đồng), tiền lãi quá hạn là 38.200.782 đồng (Ba mươi tám triệu hai trăm nghìn bảy trăm tám mươi hai đồng); và yêu cầu bà T1 tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng S tiền lãi phát sinh theo quy định tại Hợp đồng đã ký từ ngày 10/7/2025 cho đến khi trả hết nợ.
- Bị đơn bà Trần Lệ T1 vắng mặt không lý do.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 10, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:
- Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng theo quy định.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn về việc: Buộc bà Trần Lệ T1 phải thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền tạm tính đến ngày 09/7/2025 là 94.456.617 đồng (Chín mươi bốn triệu bốn trăm năm mươi sáu nghìn sáu trăm mười bảy đồng), gồm nợ gốc là 56.255.835 đồng (Năm mươi sáu triệu hai trăm năm mươi lăm nghìn tám trăm ba mươi lăm đồng), tiền lãi quá hạn là 38.200.782 đồng (Ba mươi tám triệu hai trăm nghìn bảy trăm tám mươi hai đồng) và bà T1 có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 10/7/2025 cho đến khi trả thi hành xong bản án có hiệu lực pháp luật.
- Về án phí: Đương sự chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tò và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Ngân hàng S khởi kiện yêu cầu bà Trần Lệ T1 trả số tiền còn nợ của Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày 13/9/2023. Đây là tranh chấp về giao dịch dân sự, hợp đồng dân sự có quan hệ pháp luật là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”; bị đơn hiện cư trú tại xã A, huyện C, Thành phố H nay là xã V, Thành phố H nên căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15 ngày 27/6/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội thành lập Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân khu vực, quy định phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân khu vực; Nghị quyết số 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27/6/2025 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định về tiếp nhận nhiệm vụ, thực hiện thẩm quyền của các Tòa án nhân dân thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 10, Thành phố Hồ Chí Minh.
. Về thủ tục tố tụng:
Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S do ông Dương Văn T2 đại diện theo ủy quyền có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt; bị đơn bà Trần Lệ T1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự trên.
. Về yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng S, Hội đồng xét xử xét thấy:
. Căn cứ Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày 13/9/2023 gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 13/9/2023, Bản điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S được bà Trần Lệ T1 và đại diện Ngân hàng S ký tên xác nhận có cơ sở xác định bà T1 đã được Ngân hàng S đồng ý cấp cho 01 (một) Thẻ tín dụng Visa có số thẻ là 472074-9521 với hạn mức sử dụng là 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng) để tiêu dùng cá nhân.
Việc giao kết Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày 13/9/2023 giữa Ngân hàng S và bà T1 là tự nguyện, không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội nên đã phát sinh hiệu lực; phù hợp với các quy định tại Điều 117, Điều 463 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
. Theo nội dung được ghi nhận trong Bảng tóm tắt sao kê ngày 09/7/2025 xác định:
- Vào ngày 05/10/2023 bà T1 đã thực hiện giao dịch với tổng số tiền là 49.900.000 đồng (Bốn mươi chín triệu chín trăm nghìn đồng).
- Từ ngày 05/10/2023 đến ngày 05/01/2024 bà T1 đã nhiều lần thanh toán cho Ngân hàng S với tổng số tiền là 3.359.970 đồng (Ba triệu ba trăm năm mươi chín nghìn chín trăm bảy mươi đồng), nhưng vi phạm thời hạn thanh toán nên phát sinh các khoản lãi và phí được các bên thỏa thuận trong Hợp đồng.
- Tính đến ngày 09/7/2025 bà T1 còn nợ Ngân hàng S tổng số tiền là 94.456.617 đồng (Chín mươi bốn triệu bốn trăm năm mươi sáu nghìn sáu trăm mười bảy đồng), trong đó dư nợ gốc là 56.255.835 đồng (Năm mươi sáu triệu hai trăm năm mươi lăm nghìn tám trăm ba mươi lăm đồng), tiền lãi quá hạn là 38.200.782 đồng (Ba mươi tám triệu hai trăm nghìn bảy trăm tám mươi hai đồng).
. Theo quy định tại Điều 20 Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S thì số tiền bà T1 đã trả cho Ngân hàng S sẽ được áp dụng thanh toán theo thứ tự như sau: Các khoản phí và/hoặc lãi của kỳ trước; Giao dịch rút tiền mặt của kỳ trước; Giao dịch mua hàng hóa của kỳ trước; Các khoản phí và/hoặc lãi trong kỳ; Giao dịch rút tiền mặt trong kỳ; Giao dịch mua hàng hóa trong kỳ.
Ngày 06/3/2024 Ngân hàng S chấm dứt quyền sử dụng thẻ của bà T1 và tính đến ngày 06/3/2024 số tiền bà T1 còn nợ Ngân hàng S là 56.255.835 đồng (Năm mươi sáu triệu hai trăm năm mươi lăm nghìn tám trăm ba mươi lăm đồng) đã được Ngân hàng S chuyển sang nợ gốc quá hạn là phù hợp với thỏa thuận của các bên tại Điều 23 của Bản điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S.
. Căn cứ Quyết định số 2661/2022/QĐ-TTT ngày 28/10/2022 của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S về việc ban hành biểu phí sản phẩm dịch vụ Thẻ S phát hành tại Việt Nam và Điều 22, Điều 23 Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S thì mức lãi suất trong hạn được áp dụng đối với thẻ tín dụng Visa là 2,76%/tháng và mức lãi suất quá hạn là 4,14%/tháng.
. Ngân hàng S yêu cầu bà T1 phải thanh toán cho Ngân hàng S tổng số tiền còn nợ của Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày 13/9/2023 tính đến ngày 09/7/2025 là 94.456.617 đồng (Chín mươi bốn triệu bốn trăm năm mươi sáu nghìn sáu trăm mười bảy đồng), trong đó dư nợ gốc là 56.255.835 đồng (Năm mươi sáu triệu hai trăm năm mươi lăm nghìn tám trăm ba mươi lăm đồng), tiền lãi quá hạn là 38.200.782 đồng (Ba mươi tám triệu hai trăm nghìn bảy trăm tám mươi hai đồng); và yêu cầu bà T1 tiếp tục thanh toán tiền lãi phát sinh kể từ ngày 10/7/2025 theo mức lãi suất quy định trong hợp đồng đã giao kết cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.
. Đối với bà Trần Lệ T1, mặc dù Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, nhưng bà T1 vẫn vắng mặt không lý do và cũng không có ý kiến phản hồi đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng S xem như bà T1 từ bỏ quyền lợi và chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng S.
. Xét thấy, bà T1 không thanh toán cho Ngân hàng S số tiền nợ phát sinh từ các giao dịch sử dụng thẻ tín dụng là vi phạm nghĩa vụ trả tiền theo quy định tại Điều 280 Bộ luật dân sự năm 2015. Do đó, Ngân hàng S yêu cầu bà T1 có trách nhiệm thanh toán số tiền còn nợ của Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày 13/9/2023 tính đến ngày 09/7/2025 là 94.456.617 đồng (Chín mươi bốn triệu bốn trăm năm mươi sáu nghìn sáu trăm mười bảy đồng), trong đó dư nợ gốc là 56.255.835 đồng (Năm mươi sáu triệu hai trăm năm mươi lăm nghìn tám trăm ba mươi lăm đồng), tiền lãi quá hạn là 38.200.782 đồng (Ba mươi tám triệu hai trăm nghìn bảy trăm tám mươi hai đồng); và yêu cầu bà T1 tiếp tục thanh toán tiền lãi phát sinh kể từ ngày 10/7/2025 theo mức lãi suất quy định trong hợp đồng đã giao kết cho đến khi thanh toán xong khoản nợ là phù hợp với quy định tại Điều 351, Điều 352, Điều 357, Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 91, Điều 95, Điều 98 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2017 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
. Yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng S và Quan điểm của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 10, Thành phố Hồ Chí Minh là có căn cứ, phù hợp với nhận định nêu trên của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
. Về án phí: Bà Trần Lệ T1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 92; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Căn cứ Điều 117, Điều 280, Điều 351, Điều 352, Điều 357, Điều 463, Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Căn cứ Điều 91, Điều 95, Điều 98 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
- Căn cứ Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15 ngày 27/6/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội thành lập Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân khu vực, quy định phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân khu vực;
- Căn cứ Nghị quyết số 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27/6/2025 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định về tiếp nhận nhiệm vụ, thực hiện thẩm quyền của các Tòa án nhân dân;
- Căn cứ Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S đối với bà Trần Lệ T1 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
Buộc bà Trần Lệ T1 có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền nợ phát sinh từ Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày 13/9/2023 là 94.456.617 đồng (Chín mươi bốn triệu bốn trăm năm mươi sáu nghìn sáu trăm mười bảy đồng), trong đó dư nợ gốc là 56.255.835 đồng (Năm mươi sáu triệu hai trăm năm mươi lăm nghìn tám trăm ba mươi lăm đồng), tiền lãi quá hạn là 38.200.782 đồng (Ba mươi tám triệu hai trăm nghìn bảy trăm tám mươi hai đồng).
Các đương sự thi hành tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Kể từ ngày 10/7/2025 cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng đã ký kết.
2. Về án phí: Bà Trần Lệ T1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 4.722.831 đồng (Bốn triệu bảy trăm hai mươi hai nghìn tám trăm ba mươi mốt đồng).
Hoàn lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.737.054 đồng (Một triệu bảy trăm ba mươi bảy nghìn không trăm năm mươi bốn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0051623 ngày 24/12/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh nay là Phòng Thi hành án Dân sự Khu vực 10, Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Quyền kháng cáo: Đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, riêng các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được niêm yết hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b, 9 Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014.
| Nơi nhận: - TAND TP.HCM; - Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp; - Đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Bùi Xuân Hương |