vanban.org

Bản án 37/2024/HSST — Hình sự

TAND TP. Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh Tuyên án 09/05/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt: Nguyễn Trọng T 24 (hai mươi bốn) tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 25/12/2023.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy: Mẫu vật hoàn lại sau giám định trong phong bì niêm phong số 1865/KL-KTHS của phòng K Công an tỉnh Q. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Trọng T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt: Nguyễn Trọng T 24 (hai mươi bốn) tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 25/12/2023.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ UÔNG BÍ
TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 37/2024/HSST
Ngày: 09- 5 -2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ UÔNG BÍ, TỈNH QUẢNG NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Thiên Nga.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đức Thủy và bà Vũ Thị Xuyến.

Thư ký phiên tòa:

Tại điểm cầu trung tâm: Bà Nguyễn Thị Yến - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh.

Tại điểm cầu thành phần: Bà Nguyễn Thùy D - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí tham gia phiên tòa:

Tại điểm cầu trung tâm: Ông Nguyễn Minh C - Kiểm sát viên.

Tại điểm cầu thành phần: Ông Đỗ Mạnh H - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 5 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm phòng xử án Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh và tại điểm cầu thành phần Nhà tạm giữ Công an thành phố U, tỉnh Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 25/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2024/QĐXXST- HS ngày 24 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Trọng T, tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 16/5/1981 tại thành phố U, tỉnh Quảng Ninh; nơi cư trú: tổ A, khu C, phường P, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Trọng T1 (đã chết) và bà Đỗ Thị L; có vợ: Bùi Thị L1 ( đã ly hôn); có 02 con, con lớn sinh năm 2004, con nhỏ sinh năm 2012; tiền án, tiền sự: không có

Bị cáo bị bắt quả tang và bị áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam ngày 25/12/2023 hiện đang tạm giam tại nhà tạm giữ Công an thành phố U, có mặt tại phiên tòa.

*Người chứng kiến: Anh Đỗ Hoàng A và anh Đinh Văn L2; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ 10 phút ngày 25/12/2023, trong khi làm nhiệm vụ tại tổ A, khu C, phường P, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh, Công an thành phố U đã phát hiện và bắt quả tang Nguyễn Trọng T có hành vi cất giấu trái phép trong túi áo khoác bên phải phía trước 03 túi nilon bên trong chứa tinh thể màu trắng. Ngoài ra còn thu giữ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu vàng, gắn sim số 0974.537.828; 01 xe mô tô Attila gắn biển số 14H2 – 8628.

Tại bản kết luận giám định số 1865/KL-KTHS ngày 30/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh Q kết luận: Mẫu vật thu giữ của Nguyễn Trọng T là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 1,201gam.

Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo Nguyễn Trọng T thành khẩn, khai nhận: khoảng 13 giờ 00 phút ngày 25/12/2023, do có nhu cầu sử dụng ma túy, T điều khiển xe mô tô đến khu vực cầu Đ, thành phố Hải Phòng mua của 01 người đàn ông không quen biết 03 túi nilon chứa chất tinh thể màu trắng là ma tuý Methamphetamine với giá 1.000.000đ rồi đi về tìm nơi sử dụng. Khi T đi đến tổ A, khu C, phường P, thành phố U thì bị Công an bắt quả tang và thu giữ vật chứng như đã nêu trên.

Cáo trạng số: 13/CT- VKSUB ngày 05/4/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo. Sau khi xem xét đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, đại diện Viện Kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử :

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trọng T phạm tội: “ Tàng trữ trái phép chất ma tuý”; xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng T từ 18 tháng tù đến 24 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ 25/12/2023.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong hoàn lại sau giám định số 1865/KL-KTHS của phòng K Công an tỉnh Q. Trả lại bị cáo Nguyễn Trọng T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu vàng bên trong lắp sim 0974.537.828.

Đối với xe mô tô nhãn hiệu Attila gắn biển số 14H2 – 8628 (chưa rõ chủ sở hữu) chuyển Công an thành phố U quản lý giải quyết theo quy định.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Trọng T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và thừa nhận việc Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội nên không tranh luận, và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để sớm trở về với gia đình. Những người chứng kiến anh Đỗ Hoàng A và anh Đinh Văn L2 vắng mặt tại phiên tòa nhưng có lời khai tại cơ quan điều tra nội dung thể hiện được chứng kiến cơ quan công an bắt giữ bị cáo, thu giữ vật chứng như đã nêu trên phù hợp với lời khai của bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập và hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các tài liệu, chứng cứ cũng như hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập và hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh: lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra phù hợp với lời khai của người chứng kiến, vật chứng thu giữ của bị cáo, kết luận giám định, biên bản bắt người phạm tội quả tang do Công an phường P, thành phố U lập hồi 14 giờ 15 phút ngày 25/12/2023 và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 14 giờ 10 phút ngày 25/12/2023 tại tổ A, khu C, phường P, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh, Nguyễn Trọng T là người đủ năng lực trách nhiệm hình sự có hành vi cố ý tàng trữ trái phép 1,201 gam ma túy loại Methamphetamine mục đích để sử dụng thì bị Công an thành phố U phát hiện bắt quả tang thu giữ vật chứng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý. Hành vi đó đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh truy và kết luận về hành vi phạm tội đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về hình phạt:

Hình phạt chính:

Bị cáo là người trưởng thành nhận thức được tác hại của ma túy, biết rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý phạm tội, nên cần phải xử lý nghiêm.

Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về nhân thân: bị cáo Nguyễn Trọng T chưa có tiền án, tiền sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Từ những đánh giá, phân tích nêu trên, căn cứ vào nhân thân, hành vi, tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo cũng như những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử thấy phải có mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, buộc bị cáo phải cách ly khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung tội phạm.

Về hình phạt bổ sung: theo quy định bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng. Xét bị cáo không có tài sản riêng, mua ma túy để sử dụng không nhằm mục đích bán kiếm lời nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

Đối với mẫu vật hoàn lại sau giám định trong phong bì niêm phong số 1865/KL-KTHS là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu vàng bên trong lắp sim 0974.537.828 quá trình điều tra xác định không liên quan đến hành vi phạm tội cần trả lại cho bị cáo Nguyễn Trọng T.

Đối với xe mô tô nhãn hiệu Attila, màu sơn đen bạc gắn biển số 14H2 – 8628, số máy: VMM9BFD004143, số khung: RLGH125HD6D004143. Công an thành phố U, tỉnh Quảng Ninh đã có công văn thông báo truy tìm chủ sở hữu, hiện chưa xác định được chủ sở hữu. Nên giao chiếc xe trên cho cơ quan điều tra Công an thành phố U giải quyết theo thẩm quyền.

Những tình tiết khác trong vụ án: đối với người đàn ông bán ma tuý cho T, quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ, nên không có căn cứ xử lý.

Về án phí và quyền kháng cáo: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1.Căn cứ vào: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Nguyễn Trọng T 24 (hai mươi bốn) tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 25/12/2023.

2. Về xử lý vật chứng:

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

+ Tịch thu tiêu hủy: Mẫu vật hoàn lại sau giám định trong phong bì niêm phong số 1865/KL-KTHS của phòng K Công an tỉnh Q.

+ Trả lại cho bị cáo Nguyễn Trọng T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu vàng bên trong lắp sim 0974.537.828.

+ Giao 01 xe mô tô nhãn hiệu Attila, màu sơn đen bạc gắn biển số 14H2 – 8628, số máy: VMM9BFD004143, số khung: RLGH125HD6D004143 cho cơ quan điều tra Công an thành phố U giải quyết theo thẩm quyền.

(Số vật chứng, tài sản trên có tình trạng và đặc điểm như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 05 tháng 4 năm 2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Quảng Ninh và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh).

3. Về án phí: áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Nguyễn Trọng T phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm, nộp ngân sách Nhà nước.

4. Về quyền kháng cáo: căn cứ vào Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ