- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đặng Văn Tĩnh - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Đặng Văn T h phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN Q. THANH KHÊ-TP ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 37/2024/HSST Ngày: 15.3.2024 s |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trương Thị Hồng Thủy
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Thuận và ông Trần Minh Thân
- Thư ký phiên tòa: Bà Lương Lê ngọc Linh – Thư ký Toà án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Trúc Lâm và bà Ngô Thị Thanh Thuận - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 3 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 15/2024/HSST ngày 31 tháng 01 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 3 năm 2024 đối với bị cáo:
Đặng Văn T - Sinh ngày 18 tháng 4 năm 1984 tại tỉnh Nam Định; Nơi thường trú: Xóm 4, xã Hồng Thuận, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định; Nơi cư trú: Số 17 Trần Thái Tông, phường An Khê, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng; Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; Trình độ học vấn: 09/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa giáo; Con ông Đặng Văn Thanh (sinh năm 1961) và bà Nguyễn Thị Khiêm (sinh năm 1965); Gia đình có 04 người con, bị cáo là con thứ nhất; Có vợ tên Nguyễn Thị Điểm (sinh năm 1982) và 02 con, lớn sinh năm 2018 và nhỏ sinh năm 2022.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ tạm giam từ ngày 27/10/2023, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng. Có mặt.
* Người chứng kiến:
- Ông Nguyễn Thanh Tr – Sinh năm 2000; Địa chỉ: Tổ 17, phường Xuân Hà, quận Thanh Khê, TP Đà Nẵng. Vắng mặt.
- Ông Đinh Văn H – Sinh năm 2000; Địa chỉ: Tổ 17, phường Xuân Hà, quận Thanh Khê, TP Đà Nẵng. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 07 giờ 50 phút ngày 27.10.2023, Đặng Văn T h liên lạc với một người đàn ông tên Bờm (không rõ nhân thân, lai lịch) hỏi mua 500.000 đồng ma túy heroine để sử dụng thì Bờm đồng ý và hẹn Tĩnh đến kiệt gần nhà sách Thanh Khê trên đường Trần Cao Vân, TP. Đà Nẵng (không rõ địa chỉ cụ thể). Tĩnh liền đi xe ôm từ nhà đến chỗ hẹn, tìm gặp và mua của Bờm 01 (một) gói giấy chứa ma túy Heroin giá 500.000 đồng. Mua xong, Tĩnh cầm gói ma túy trong tay trái rồi đi bộ ra định đón xe ôm về, vào lúc 08 giờ 30 phút, khi đi ngang qua số 722 Trần Cao Vân, phường Xuân Hà, quận Thanh Khê, TP. Đà Nẵng thì bị Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an quận Thanh Khê bắt quả tang về hành vi cất giấu trái phép chất ma tuý nhằm mục đích sử dụng, thu giữ tại dưới nền đường ngay chỗ Tĩnh đứng có 01 (một) gói giấy chứa chất rắn màu trắng, theo Tĩnh khai là ma túy Heroine của Tĩnh đang cầm trên tay khi bị bắt thì làm rơi xuống đường ngay chỗ Tĩnh đứng, được niêm phong ký hiệu G1.
* Tại Bản kết luận giám định số 948/KL-KTHS ngày 03.11.2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Đà Nẵng kết luận:
“Chất rắn màu trắng trong bì niêm phong ký hiệu G1 gửi giám định là ma túy, loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất. Khối lượng mẫu G1: 0,175 gam.”
Qua thử nước tiểu, Đặng Văn T h dương tính với chất ma túy; kiểm tra điện thoại cũng không phát hiện nội dung gì liên quan đến vụ việc.
Quá trình điều tra, bị can Tĩnh đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
* Tang vật tạm giữ:
- Mẫu vật hoàn trả sau giám định được niêm phong trong 01 (một) bì niêm phong số 948/KL-KTHS ngày 03/11/2023, ký hiệu G1, có đóng dấu giáp lai của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an TP. Đà Nẵng: Chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Khê tạm thời quản lý.
- 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia màu đen, số Imei: 357291087701060, gắn sim số 0866110728 (tài sản của Đặng Văn T h, dùng để liên lạc mua ma túy): Chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Khê tạm thời quản lý.
Quá trình điều tra vụ án, Tĩnh đã khai nhận đã khai nhận hành vi phạm tội của mình.
Với nội dung trên tại Bản cáo trạng số: 10/2024/CT-VKS ngày 29/01/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Đặng Văn T h về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo như nội dung Cáo trạng. Trên cơ sở đánh giá tính chất vụ án, hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cũng như về nhân thân của từng bị cáo, qua đó đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ: Điểm c khoản 1, 5 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đặng Văn T h mức án từ 15 tháng đến 21 tháng tù giam. Đề nghị phạt bổ sung bị cáo Tĩnh từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên:
- Tịch thu tiêu hủy: Mẫu vật hoàn trả sau giám định được niêm phong trong 01 bì niêm phong số 948/KL-KTHS ngày 03/11/2023, ký hiệu G1, có đóng dấu giáp lai của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an thành phố Đà Nẵng.
- Tịch thu sung công quỹ đối với: 01 (một) điện thoai di dộng hiệu Nokia màu đen, số Imei: 357291087701060, gắn thẻ sim 0866110728, là điện thoại của Tĩnh dùng để liên lạc mua ma túy.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Đặng Văn T h, Công an quận Thanh Khê đã xử phạt hành chính.
Đối với người đàn ông tên Bờm (bán ma túy cho Tĩnh) hiện không rõ lai lịch, địa chỉ, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Thanh Khê tiếp tục điều tra làm rõ, xử lý sau.
Tại phiên tòa bị cáo Đặng Văn T h đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo có cơ hội làm lại cuộc đời.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên thuộc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng; Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thuộc Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đều hợp pháp.
. Về hành vi phạm tội của bị cáo Đặng Văn T: Qua xem xét lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa, quan điểm luận tội của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa, lời khai của người chứng kiến cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định:
Lúc 08 giờ 30 phút ngày 27/10/2023, tai trước nhà số 722 đường Trần Cao Vân, phường Xuân Hà, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng, Đặng Văn T h có hành vi cất giấu trái phép chất ma túy loai Heroine, khối luợng 0,175 gam nhằm mục đích sử dụng cá nhân thì bị Đội Cảnh sát điều tra tội pham về ma túy Công an quận Thanh Khê phát hiện bắt qủa tang.
Hành vi trên của bị cáo Đặng Văn T đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
. Xét tính chất vụ án, hành vi phạm tội của bị cáo Đặng Văn T thì thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo Đặng Văn T là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội. Bị cáo nhận thức rõ ma túy không những trực tiếp gây ảnh hưởng đến sức khỏe của con người mà còn để lại hậu quả nghiêm trọng cho các thế hệ mai sau, là nguyên nhân gây ra nhiều loại tội phạm và tệ nạn xã hội khác, nhưng bản thân là người sử dụng ma túy ma túy nên bị cáo đã bất chấp các quy định của pháp luật vẫn cố tình mua ma túy về sử dụng. Do vậy, hành vi phạm tội của của bị cáo cần phải xử lý nghiêm.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHH, nhân thân của các bị cáo:
- Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự .
- Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, cần áp dụng cho bị cáo khi lượng hình.
Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo Đặng Văn T h ra khỏi xã hội một thời gian để răn đe giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung đối với xã hội như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Đặng Văn T h không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, có 02 con nhỏ nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo như đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.
Đối với vấn đề khác:
- Đối với người thanh niên tên Bờm (không rõ nhân thân, lai lịch) là người bán ma túy cho Tĩnh hiện chưa xác định được nhân thân lai lịch nên Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra xử lý sau là có cơ sở.
- Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Đặng Văn T h, Công an quận Thanh Khê đã ra Quyết định xử phạt hành chính là đúng quy định pháp luật.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, xử lý như sau:
- Tịch thu tiêu hủy: Mẫu vật hoàn trả sau giám định được niêm phong trong 01 bì niêm phong số 948/KL-KTHS ngày 03/11/2023, ký hiệu G1, có đóng dấu giáp lai của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an thành phố Đà Nẵng.
- Tịch thu sung công quỹ đối với: 01 (một) điện thoai di dộng hiệu Nokia màu đen, số Imei: 357291087701060, gắn thẻ sim 0866110728, là điện thoại của Tĩnh dùng để liên lạc mua ma túy.
(Toàn bộ vật chứng nêu trên, Chi cục thi hành án dân sự quận Thanh Khê , thành phố Đà Nẵng đang tạm giữ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 30.01.2024).
. Về án phí Hình sự sơ thẩm: Theo quy định tại khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội bị cáo phải chịu 200.000 đồng.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố: Bị cáo Đặng Văn T h phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ: Điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt: Đặng Văn T h 01 năm 06 tháng tù giam. Thời gian gian chấp hành án kể từ ngày bị bắt, ngày 27.10.2023.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Tuyên:
- Tịch thu tiêu hủy: Mẫu vật hoàn trả sau giám định được niêm phong trong 01 bì niêm phong số 948/KL-KTHS ngày 03/11/2023, ký hiệu G1, có đóng dấu giáp lai của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an thành phố Đà Nẵng.
- Tịch thu sung công quỹ đối với: 01 (một) điện thoai di dộng hiệu Nokia màu đen, số Imei: 357291087701060, gắn thẻ sim 0866110728, là điện thoại của Tĩnh dùng để liên lạc mua ma túy.
(Toàn bộ vật chứng nêu trên, Chi cục thi hành án dân sự quận Thanh Khê , thành phố Đà Nẵng đang tạm giữ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 30.01.2024).
3. Về án phí hình sư sơ thẩm: Căn cứ khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Đặng Văn T h phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự. Các đương sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND TP. Đà Nẵng (phòng 7); - TAND TP Đà Nẵng (Phòng KTNV); - VKSND quận Thanh Khê ; - CQĐT - Công an quận Thanh Khê ; - Cơ quan THAHS – Công an Q. Thanh Khê ; - Sở Tư pháp TP. Đà Nẵng; - Chi cục THADS quận Thanh Khê ; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Thị Hồng Thủy |