vanban.org

Bản án 37/2024/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Dĩ An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 29/01/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Trần Văn T 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 01/10/2023. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46, điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 89, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn T bị xét xử về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ DĨ AN
TỈNH BÌNH DƯƠNG
——————————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 37/2024/HS-ST
Ngày 29-01-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngân.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Kim Hoa;

2. Bà Nguyễn Thị Bửu Huệ.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hương Giang, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Huyền, Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 01 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 457/2023/TLST-HS ngày 22 tháng 12 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26/2024/QĐXXST-HS ngày 18/01/2024 đối với bị cáo:

Trần Văn T, sinh ngày 01/01/1997 tại tỉnh C; thường trú: Ấp R, xã H, huyện N, tỉnh C; chỗ ở: Số 23/7, khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh B; nghề nghiệp: Bốc xếp; trình độ học vấn: 00/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Khmer; tôn giáo: Không; con ông Trần Văn T (đã chết) và bà Lý Thị C (đã chết); tiền án, tiền sự: không. Nhân thân: Ngày 19/9/2017 bị Toà án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương xử phạt 03 năm tù về tội Cướp giật T sản, chấp hành xong hình phạt tù ngày 01/5/2019. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/10/2023. Có mặt.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

+ Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1966; địa chỉ: Ấp 2, xã A, huyện T, tỉnh Đ. Vắng mặt.

+ Ông Dương Hải L, sinh năm 1963; địa chỉ: F120, P4, Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt.

Người chứng kiến: Ông Đặng Thành T. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các T liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 01/10/2023, Trần Văn T điều khiển xe môtô hai bánh kiểu dáng Sirius, nhãn hiệu BOSS CITY, số khung RL8GCBKUMK1000295, số máy VDGZS152FMH-JA00002339, biển số 66NA-036.11 đi từ nhà trọ địa chỉ 23/7, khu phố T, phường T, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương đến khu vực nghĩa trang thuộc tổ 18B, khu phố An Hòa, phường Hóa An, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai để mua ma túy. Tại đây, T gặp một người đàn ông (không rõ nhân thân, lai lịch) hỏi mua 200.000 đồng ma túy đá thì được người đàn ông bán cho T 01 gói nylon hàn kín chứa tinh thể màu trắng là ma túy đá. Sau khi mua, T cầm gói ma túy trong lòng bàn tay trái rồi điều khiển xe đi tìm chỗ để sử dụng. Khi T đến trước nhà số 91/6 đường Thanh Niên, khu phố Tân Phú 2, phường Tân Bình, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương thì bị lực lượng Công an phường Tân Bình yêu cầu dừng xe kiểm tra. Quá trình kiểm tra, Công an phát hiện và thu giữ trong lòng bàn tay trái của T có 01 gói nylon hàn kín chứa tinh thể màu trắng, T khai nhận là ma túy đá. Công an phường Tân Bình đã lập biên bản phạm tội quả tang đối với T, thu giữ tang vật, phương tiện và niêm phong gói ma túy và lập hồ sơ vụ việc chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An xử lý theo quy định.

Tại bản Kêt luận giám định số 559/KL-KTHS (MT) ngày 06 tháng 10 năm 2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Bình Dương kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng: 0,1230 gam.

Tại cáo trạng số 15/CT-VKS-DA ngày 19 tháng 12 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Trần Văn T về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015.

Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trần Văn T mức án từ 01 năm 04 tháng đến 01 năm 06 tháng tù.

Về xử lý vật chứng:

- 01 gói nylon hàn kín bên trong chứa tinh thế màu trắng có trọng lượng 0.1230gam. Sau khi phục vụ việc giám định, số ma túy còn lại sau giám định là 0,0803 gam, được niêm phong trong một bì thư của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương, đề nghị tịch thu tiêu hủy.

- 01 xe môtô hai bánh kiểu dáng Sirius, nhãn hiệu BOSS CITY, số loại không xác định, dung tích xi lanh 49,5cm3, số khung RL8GCBKUMK1000295, số máy VDGZS152FMH-JA00002339, biển số 66NA - 036.11 đã đăng báo 03 kỳ nhưng không tìm được chủ sở hữu nên đề nghị tịch thu sung vào công quỹ Nhà nước.

Đối với người đàn ông bán ma túy cho T chưa rõ nhân thân, lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An đang tiếp tục điều tra, xác minh xử lý sau.

Tại phiên tòa bị cáo không tranh luận, không bào chữa cho hành vi phạm tội của mình. Trước khi Hội đồng xét xử nghị án bị cáo nói lời sau cùng xin được xem xét giảm nhẹ mức hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng:

Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Dĩ An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình tố tụng, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa vắng mặt những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là ông Nguyễn Văn C, ông Dương Hải L, tuy nhiên ông C và ông L đã có lời khai tại cơ quan điều tra, việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Tòa án xét xử vắng mặt ông C, ông L theo quy định tại Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về căn cứ xác định bị cáo phạm tội: Căn cứ vào lời khai của bị cáo và người chứng kiến; Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 01/10/2023, Kết luận giám định số 559/KL-KTHS (MT) ngày 06 tháng 10 năm 2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương và những chứng cứ, tài liệu được thu thập trong hồ sơ vụ án, xác định: Khoảng 23 giờ 10 phút ngày 01/10/2023 tại trước nhà số 91/6 đường Thanh Niên, khu phố Tân Phú 2, phường Tân Bình, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương, Trần Văn T có hành vi cất giữ 01 gói nylon miệng hàn kín, bên trong chứa ma túy loại methamphetamine, có tổng khối lượng là 0,1230 gam, mục đích để sử dụng, đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Do đó, Cáo trạng số 15/CT-VKS ngày 19 tháng 12 năm 2023 của Viện kiểm sát thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo cũng như bản luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Tội phạm do bị cáo thực hiện là nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm phạm đến sự quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự nhận thức rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo với mức án tương xứng với tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Về nhân thân: Bị cáo là người nghiện ma túy.

Về hình phạt: Xét bị cáo phạm tội nghiêm trọng, đã xâm phạm vào sự quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma tuý, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương.Vì vậy Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho gia đình, xã hội và có tác dụng đấu tranh, phòng ngừa chung.

Về xử lý vật chứng:

Xét 01 bì thư được niêm phong ghi số vụ: 559/PC09, chứa 0,0803 gam ma tuý đá còn lại sau giám định là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 xe môtô hai bánh kiểu dáng Sirius, nhãn hiệu BOSS CITY, số loại không xác định, dung tích xi lanh 49,5cm3, số khung RL8GCBKUMK1000295, số máy VDGZS152FMH-JA00002339, biển số 66NA - 036.11 đã đăng báo 03 kỳ nhưng không tìm được chủ sở hữu, cần tịch thu sung vào công quỹ Nhà nước.

Đối với người đàn ông bán ma túy cho T chưa rõ nhân thân, lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An tiếp tục điều tra, xác minh xử lý sau là phù hợp.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương đưa ra tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân, tội danh, mức hình phạt đối với bị cáo cũng như việc xử lý vật chứng là phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử do vậy được chấp nhận.

Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Trần Văn T 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 01/10/2023.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46, điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 89, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu tiêu hủy: 01 bì thư được niêm phong ghi số vụ: 559/PC09, chứa 0,0803 gam ma tuý đá còn lại sau giám định.

Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước xe mô tô hai bánh (kiểu sáng Sirius), đề nhãn hiệu BOSS CITY, số loại không xác định (do số khung, số máy không cùng nhau), dung tích xi lanh 49,5 cm3, số khung RL8GCBKUMK1000295, số máy VDGZS152FMH-JA00002339, biển số 66NA-036.11.

(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 22/12/2023 tại Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương).

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Bị cáo Trần Văn T phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ