vanban.org

Bản án 37/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình Tuyên án 28/05/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: các bị cáo Hà Thị V, Nguyễn Văn P, Hoàng Văn D, Quách Văn M và Hoàng Văn C phạm tội: “Đánh bạc ” . Bị cáo Hà Thị V 12 (Mười hai) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 (Hai mươi bốn) tháng, thời hạn tính từ ngày tuyên án. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã K, huyện N, tỉnh Ninh…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN N
TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 37 /2024/HS-ST.
Ngày: 28 - 5 - 2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, TỈNH NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Vũ Quang Chung.

Hội thẩm nhân dân: ông Lương M Tường và ông Nguyễn Văn Phiếu.

- Thư ký phiên toà: ông Bùi Quang Trung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N tham gia phiên toà: ông Nguyễn Xuân Duy - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện N, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 18/2024/TLST- HS ngày 26 tháng 3 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 35/2024/QĐXXST - HS ngày 15 tháng 5 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Hà Thị V sinh năm 1966; tại N, Ninh Bình; giới tính: Nữ; nơi cư trú: bản X, xã K, huyện N, tỉnh Ninh Bình; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 07/10; con ông: Hà Văn G, con bà: Nguyễn Thị V (đã chết); chồng: Đinh Văn Đ (đã ly hôn); có 03 con: con lớn nhất sinh năm 1987, con nhỏ nhất sinh năm 1990; tiền án, tiền sự: Không;

Lịch sử bản thân: Ngày 17/12/2018, Chủ tịch UBND huyện N ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 5518, xử phạt Hà Thị V 10.000.000 đồng về hành vi “Cho vay, có cầm cố tài sản vượt quá 150% lãi xuất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm cho vay”. Hà Thị V đã nộp phạt xong ngày 27/12/2018.

Biện pháp ngăn chặn: Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ từ ngày 11/01/2024, đến ngày 17/01/2024, được hủy bỏ biện pháp gia hạn tạm giữ và được áp dụng bằng biện pháp: Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.

2. Họ và tên: Nguyễn Văn P sinh năm 1991; tại N, Ninh Bình; giới tính: Nam; nơi cư trú: thôn 7, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Bình; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Công giáo; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 09/12; con ông: Nguyễn Văn V, con bà: Nguyễn Thị H; vợ: Thái Thị Lan K; có 02 con: con lớn sinh năm 2018, con nhỏ sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: Không;

Lịch sử bản thân: Ngày 25/02/2022, Công an xã P, huyện N ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 0300830, xử phạt Nguyễn Văn P 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc”. Nguyễn Văn P đã nộp phạt xong ngày 01/3/2022.

Biện pháp ngăn chặn: Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ từ ngày 11/01/2024, đến ngày 17/01/2024, được hủy bỏ biện pháp gia hạn tạm giữ và được áp dụng bằng biện pháp: Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.

3. Họ và tên: Hoàng Văn D sinh năm 1975; tại N, Ninh Bình; giới tính: Nam; nơi cư trú: thôn A, xã V, huyện N, tỉnh Ninh Bình; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 03/12; con ông: Hoàng Văn N, con bà: Bùi Thị V; vợ: Bùi Thị T; có 02 con: con lớn sinh năm 1999, con nhỏ sinh năm 2000; tiền án, tiền sự: Không;

Lịch sử bản thân: Ngày 28/8/2018, Công an xã V, huyện N ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 10, xử phạt Hoàng Văn D 1.000.000 đồng về hành vi “Đánh bạc”. Hoàng Văn D đã nộp phạt xong ngày 29/8/2018.

Biện pháp ngăn chặn: Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ từ ngày 11/01/2024, đến ngày 17/01/2024, được hủy bỏ biện pháp gia hạn tạm giữ và được áp dụng bằng biện pháp: Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.

4. Họ và tên: Hoàng Văn C sinh năm 1983; tại N, Ninh Bình; giới tính: Nam; nơi cư trú: thôn P, xã T, huyện N, tỉnh Ninh Bình; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; con ông: Hoàng Văn N, con bà: Lý Thị Gái; vợ: Trần Thị T; có 03 con: con lớn nhất sinh năm 2009, con nhỏ nhất sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: Không.

Biện pháp ngăn chặn: Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ từ ngày 11/01/2024, đến ngày 17/01/2024, được hủy bỏ biện pháp gia hạn tạm giữ và được áp dụng bằng biện pháp: Cấm đi khỏi nơi cư trú;có mặt.

5. Họ và tên: Quách Văn M sinh năm 1983; tại N, Ninh Bình; giới tính: Nam; nơi cư trú: thôn 6, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Bình; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Công giáo; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 05/12; con ông: Quách Văn H, con bà: Nguyễn Thị N; vợ: Đinh Thị H; có 03 con: con lớn nhất sinh năm 2006, con nhỏ nhất sinh năm 2013; tiền án, tiền sự: Không.

Biện pháp ngăn chặn: Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ từ ngày 11/01/2024, đến ngày 17/01/2024, được hủy bỏ biện pháp gia hạn tạm giữ và được áp dụng bằng biện pháp: Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: ông Nguyễn Văn V, sinh năm 1964; trú tại: thôn 7, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Bình; vắng mặt.

* Người làm chứng: chị Thái Thị Lan K; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hà Thị V có mối quan hệ bạn bè quen biết với ông Nguyễn Văn V, sinh năm 1964; trú tại: thôn 7, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Bình. Sáng ngày 11/01/2024, V đã đến nhà gặp ông Việt ngồi chơi, uống nước tại gian phòng bếp nhà ông Việt. Một lúc sau, ông Việt một mình đi ăn cơm, uống rượu sau đó đi vào phòng riêng của mình để ngủ. Trong khi V ngồi chơi tại gian bếp nhà ông Việt thì Hoàng Văn D gọi điện thoại hỏi V đang ở đâu thì V bảo đang ở nhà ông Việt, đồng thời V chỉ đường cho D đến nhà ông Việt. Đến khoảng 11 giờ cùng ngày, trong khi V và D đang ở nhà ông Việt thì lần lượt Hoàng Văn C, Quách Văn M cũng đến nhà ông Việt, thì C và M đã ngồi xuống chiếu nói chuyện, uống nước cùng V và D.

Trong khi mọi người đang ngồi chơi thì Hà Thị V nhìn thấy dưới chiếc chiếu tre trải dưới nền bếp nhà ông Việt có để 01 bộ bài tú lơ khơ. V đã nảy sinh ý định đánh bạc ăn tiền nên đã nói với D, C và M là: “Có làm tý lấy tiền ăn trưa không”, mục đích V rủ D, C và M đánh bạc thì tất cả mọi người đều đồng ý.

Trước khi vào đánh bạc, tất cả mọi người thống nhất với nhau bằng hình thức “Đánh Liêng” được thua bằng tiền, với số tiền cá cược thấp nhất là 50.000 đồng và cao nhất là 500.000 đồng, cụ thể việc quy ước như sau:

Trong mỗi ván bạc, trước khi chia bài để “tố” thì mỗi người sẽ đóng “gà” với số tiền là 50.000 đồng vào giữa chiếu, ai thắng sẽ ăn được cả tiền “gà” và tiền “tố”. Khi bắt đầu chơi sẽ chia đều cho người mỗi người 03 quân bài, phần bài còn lại để dưới chiếu. Người nào thắng thì sẽ là người chia bài và cũng là người “tố” đầu tiên, tiếp theo lần lượt là người ngồi bên tay phải, người tiếp theo có thể “cân” tiền hoặc úp bỏ bài để tới lượt người khác chơi. Khi tất cả người chơi đã “cân” tiền thì sẽ hạ bài tính điểm. Cách tính điểm như sau: Bài cao nhất là bài “Sáp” trong đó, bài có ba lá bài đều là quân hai (2,2,2) là nhỏ nhất và bài có ba lá bài đều là quân Át (A,A,A) là cao nhất. Tiếp theo nhỏ hơn “Sáp” là “Liêng”, tức bài có 3 quân bài liên tiếp tính từ A(Át) đến K, như: A,2,3 (123); 4,5,6;…;9,10,J; J,Q,K; Q,K,A… nếu trong ván bạc có các bài có liêng giống nhau (ví dụ như nhiều bài đều là Q,K,A) thì sẽ đọ về chất lớn nhất, ai chất to hơn sẽ thắng, lần lượt theo thứ tự lớn nhất là Rô, tiếp theo là các chất Cơ, Tép, Bích. Tiếp theo nhỏ hơn “Liêng” là “Bộ đội”, tức bài có 3 quân đều có hình “đầu người”, trong đó có 2 quân giống nhau. Ví dụ: Q,Q,K; J,J,K; J,J,Q...,nếu các bài cùng là “Bộ đội” thì sẽ đọ về đôi bài nào lớn hơn sẽ là người thắng (ví dụ như: QQ,K sẽ thắng JJ,K do đôi QQ lớn hơn đôi JJ). Tiếp theo nếu các bài không ai có “Sáp, Liêng hoặc Bộ đội” thì sẽ tính điểm, trong đó, các quân bài từ 10 trở lên sẽ tính là 10 điểm hoặc 0 điểm, quân A (Át) là 01 điểm. Bài có 9 điểm là bài to nhất, như: 9,Q,K; 2,7,K; 6,2,A vv…và bé nhất là bài 0 (không) điểm (ví dụ: 10,10,J; 10,10,K hoặc 6,3,A…).

Đến khoảng 12 giờ cùng ngày, Nguyễn Văn P là con trai sống cùng nhà với ông Việt cùng vợ và con đi chơi về nhìn thấy V, D, C và M đang ngồi đánh bạc như đã nêu trên thì P đi ăn cơm, còn vợ và con của P đi vào phòng riêng của hai vợ chồng để ngủ. Sau khi ăn xong, đến khoảng 12 giờ 50 phút cùng ngày, P nói với V cho mình chuyển khoản số tiền 3.000.000 đồng vào tài khoản của V để lấy tiền mặt đánh bạc thì V đồng ý. Sau đó, P đã sử dụng điện thoại nhãn hiệu iPhone 14 pro max màu vàng, lắp sim 0973.997.265 của P đăng nhập vào ứng dụng chuyển tiền tài khoản của Ngân hàng Vietcombank, dùng số tài khoản 1036946737 của mình để chuyển số tiền 3.000.000 đồng đến số tài khoản 9397478868 của Hà Thị V cũng mở tại Ngân hàng Vietcombank. Sau khi chuyển tiền thành công, P chụp lại ảnh màn hình và thông báo đã chuyển tiền cho V thì V đã đưa cho P số tiền 3.000.000 đồng tiền mặt. Sau khi V đưa tiền, P đã ngồi xuống cùng tham gia đánh bạc với mọi người.

Đến khoảng 13 giờ 00 phút cùng ngày, trong khi Hà Thị V, Nguyễn Văn P, Hoàng Văn D, Hoàng Văn C và Quách Văn M đang đánh bạc bằng hình thức nêu trên đã bị Tổ công tác Đội Cảnh sát hình sự Công an huyện N phối hợp với Công an xã P, huyện N làm nhiệm vụ tuần tra kiểm soát phát hiện.

Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ tại chiếu bạc tổng số tiền 17.750.000 đồng (gồm: tiền trước mặt của những người đánh bạc là 15.950.000 đồng và tiền của những người đánh bạc đang “tố” để ở giữa chiếu là 1.800.000 đồng); 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân; 01 chiếu tre; 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 14 pro max màu vàng, lắp sim số 0973.997.265 của Nguyễn Văn P; 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 7 plus màu đen, lắp sim số 0397.478.868 của Hà Thị V và 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, màu xanh đen lắp sim số 0387.438.160 của Hoàng Văn D;

Quá trình điều tra cho đến nay đã chứng minh làm rõ nguồn gốc và số tiền của những người trên sử dụng vào việc đánh bạc, cụ thể như sau:

- Hà Thị V sử dụng số tiền 2.760.000 đồng vào việc đánh bạc. Khi bị bắt quả tang bị thu giữ số tiền trước mặt là 2.050.000 đồng. Lúc này V đang thua số tiền 710.000 đồng.

- Nguyễn Văn P sử dụng số tiền 5.200.000 đồng vào việc đánh bạc (gồm: 2.200.000đồng P có sẵn và 3.000.000đồng do V đưa, sau khi P chuyển khoản cho V). Khi bị bắt quả tang bị thu giữ số tiền trước mặt là 3.950.000 đồng. Lúc này V đang thua số tiền 1.250.000 đồng.

- Quách Văn M sử dụng số tiền 3.970.000 đồng vào việc đánh bạc. Khi bị bắt quả tang bị thu giữ số tiền trước mặt là 1.900.000 đồng. Lúc này M đang thua số tiền 2.070.000 đồng.

- Hoàng Văn D sử dụng số tiền 1.960.000 đồng vào việc đánh bạc. Khi bị bắt quả tang bị thu giữ trước mặt là 650.000 đồng. Lúc này D đang thua số tiền 1.310.000 đồng.

- Hoàng Văn C sử dụng số tiền 3.860.000 đồng vào việc đánh bạc. Khi bị bắt quả tang bị thu giữ 7.400.000 đồng (trong đó thu giữ trước mặt C là 5.800.000 đồng và thu giữ trong người C là 1.600.000 đồng). Lúc này C đang thắng số tiền 3.540.000 đồng.

- Ngoài số tiền thu giữ dưới chiếu trước mặt của từng người đánh bạc nêu trên thì Cơ quan điều tra còn thu giữ ở giữa chiếu nơi V, P, M, D, C ngồi đánh bạc số tiền 1.800.000 đồng, đây là tổng số tiền của 05 người đánh bạc đã bỏ vào đóng “gà” và đang “tố” nhưng chưa đánh xong ván bạc thì bị Tổ công tác phát hiện, bắt giữ như đã nêu.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N đã chứng minh làm rõ tổng số tiền Hà Thị V, Nguyễn Văn P, Quách Văn M, Hoàng Văn D, Hoàng Văn C sử dụng để đánh bạc là 17.750.000 đồng.

Tại bản cáo trạng số 21/CT-VKSNQ-HS ngày 25/3/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện N truy tố các bị cáo Hà Thị V, Nguyễn Văn P, Hoàng Văn D, Quách Văn M và Hoàng Văn C về tội “Đánh bạc ” theo quy định tại khoản 1, khoản 3 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, Kiểm sát viên tham gia phiên toà giữ nguyên quan điểm truy tố tại bản cáo trạng số 21/CT-VKSNQ-HS ngày 25/3/2024 và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố các bị cáo Hà Thị V, Nguyễn Văn P, Hoàng Văn D, Quách Văn M và Hoàng Văn C phạm tội: “Đánh bạc ”.

* Áp dụng:

- Khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt: bị cáo Hà Thị V từ 12 đến 15 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 đến 30 tháng. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã K, huyện N, tỉnh Ninh Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa P giám sát, giáo dục. Phạt bổ sung từ 10 triệu đồng đến 15 triệu đồng.

- Khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt:

+ Nguyễn Văn P từ 18 đến 21 tháng cải tạo không giam giữ, (được khấu trừ thời gian tạm giữ từ 11/01/2024 đến 17/01/2024) thời hạn tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện N, tỉnh Ninh Bình nhận được quyết định thi hành án. Khấu trừ thu nhập từ 05% đến 07%, trong thời gian cải tạo không giam giữ, sung ngân sách Nhà nước. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã P, huyện N, tỉnh Ninh Bình giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa P giám sát, giáo dục. Phạt bổ sung từ 10 triệu đồng đến 15 triệu đồng.

+ Hoàng Văn D từ 18 đến 21 tháng cải tạo không giam giữ,(Được khấu trừ thời gian tạm giữ từ 11/01/2024 đến 17/01/2024) thời hạn tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện N, tỉnh Ninh Bình nhận được quyết định thi hành án. Khấu trừ thu nhập từ 05% đến 07%, trong thời gian cải tạo không giam giữ, sung ngân sách Nhà nước. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã V, huyện N, tỉnh Ninh Bình giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa P giám sát, giáo dục. Phạt bổ sung từ 10 triệu đồng đến 15 triệu đồng.

- Khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35 của Bộ luật hình sự. Xử phạt:

+ Quách Văn M từ 25 đến 30 triệu đồng.

+ Hoàng Văn C từ 25 đến 30 triệu đồng.

* Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 2, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự.

- Tịch thu, sung ngân sách Nhà nước:

+ Số tiền: 17.750.000 đồng, các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc.

+ 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 14 Pro max màu vàng, thu của Nguyễn Văn P; 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 7 plus màu đen, thu của Hà Thị V, các bị cáo sử dụng để chuyển tiền dùng vào việc đánh bạc.

- Trả lại cho Hoàng Văn D 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, màu xanh đen lắp sim số 0387.438.160.

- Tịch thu, tiêu hủy:

+ 01 bộ bài tú lơ khơ mỗi bộ 52 quân, 01 chiếu tre, là công cụ, P tiện, các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc.

+ 01 sim điện thoại số 0973.997.265 thu của Nguyễn Văn P; 01 sim điện thoại số 0397.478.868 thu của Hà Thị V; 03 vỏ phong bì đựng điện thoại thu của Nguyễn Văn P, Hà Thị V và Hoàng Văn D, không còn giá trị kinh tế.

* Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc các bị cáo Hà Thị V, Nguyễn Văn P, Hoàng Văn D, Quách Văn M và Hoàng Văn C phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, các bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải về hành vi vi phạm của bản thân. Các bị cáo không có tranh luận gì với luận tội của Đại diện Viện kiểm sát; trong lời nói sau cùng các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa các bị cáo Hà Thị V, Nguyễn Văn P, Hoàng Văn D, Quách Văn M và Hoàng Văn C đã khai nhận toàn bộ hành vi vi phạm của mình. Các bị cáo khai nhận: Do có mối quan hệ quen biết với V và ông Việt chủ nhà, nên khoảng 11 giờ ngày 11/01/2024, các bị cáo D, M, C có đến nhà ông Việt để uống nước chè. Trong quá trình ngồi uống nước chè, V có rủ mọi người chơi đánh bài, ăn tiền, thì mọi người đều đồng ý, thỏa thuận đánh bài ăn tiền bằng hình thức đánh “Liêng”. Các bị cáo đánh bài từ lúc 11 giờ ngày 11/01/2024, đến khoảng 12 giờ thì có P (con trai ông Việt) đi làm về và tham gia cùng. Đến khoảng 13 giờ cùng ngày thì bị lực lượng công an phát hiện bắt quả tang. Tổng số tiền các bị cáo sử dụng vào việc Đánh bạc là 17.750.000 đồng. Hành vi phạm tội của các bị cáo như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện N đã truy tố. Lời khai của các bị cáo tại tòa phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai người làm chứng; vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra, xem xét tại phiên toà. Đủ căn cứ kết luận: Khoảng 13 giờ ngày 11/01/2024, tại gian phòng bếp của gia đình ông Nguyễn Văn Việt, sinh năm 1964; trú tại thôn 7, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Bình. Hà Thị V, Nguyễn Văn P, Quách Văn M, Hoàng Văn D và Hoàng Văn C đã có hành vi đánh bạc với nhau bằng hình thức “Đánh Liêng” được thua bằng tiền, với số tiền sử dụng vào mục đích đánh bạc là 17.750.000 đồng thì bị lực lượng công an phát hiệnquả tang. Hành vi của các bị cáo đã cấu thành tội: “Đánh bạc”, tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1, khoản 3 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.

- Theo quy định tại Điều 321 của Bộ luật hình sự.

“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

2...

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.”

Cáo trạng, lời luận tội, các chứng cứ buộc tội các bị cáo của Kiểm sát viên trình bày tại phiên toà là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi của các bị cáo Hà Thị V, Nguyễn Văn P, Hoàng Văn D, Quách Văn M và Hoàng Văn C đã xâm hại đến trật tự công cộng là khách thể được luật hình sự bảo vệ. Cả năm bị cáo đều có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi, việc làm của mình bị pháp luật cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện. Ngoài xâm hại đến khách thể được luật hình sự bảo vệ, hành vi của các bị cáo còn là nguyên nhân phát sinh của nhiều loại tội phạm khác, gây mất an ninh trật tự, ảnh hưởng xấu đến đời sống xã hội, đánh bạc băng hình thức đánh liêng thu hút nhiều người tham gia, tính chất sát phạt nhau cao hơn. Để bảo vệ trật tự xã hội, có tác dụng giáo dục đối với các bị cáo và phòng ngừa chung thì việc truy tố, đưa ra xét xử và buộc các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự như đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát là cần thiết. Trong vụ án có nhiều bị cáo tham gia, song không mang tính tổ chức mà đồng phạm tính chất giản đơn. Vai trò của các bị cáo là gần ngang nhau. Bị cáo V là người khởi xướng, rủ rê, bị cáo V có vai trò chính trong vụ án.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Các bị cáo Hà Thị V, Nguyễn Văn P, Hoàng Văn D, Quách Văn M và Hoàng Văn C, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; quá trình điều tra và tại phiên tòa khai báo thành khẩn về hành vi phạm tội là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

[4] Về hình phạt: Căn cứ quy định của Bộ luật hình sự, cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ, động cơ phạm tội của từng bị cáo, hình phạt áp dụng với từng bị cáo cụ thể:

- Đối với Hà Thị V là phụ nữ đã có tuổi, có nhân thân không tốt nhưng vẫn ham vui, khi có cơ hội là rủ rê bạn bè tụ tập đánh bài. Xét về nhân thân bị cáo có nơi ở ổn định, rõ ràng, không cần thiết phải áp dụng hình phạt cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, cho bị cáo cải tạo tại địa P, dưới sự giám sát của chính quyền địa P, cũng đủ điều kiện để bị cáo tự cải tạo, trở thành công dân tốt nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật. Cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt đối với bị cáo theo quy định tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự.

- Đối với bị cáo Nguyễn Văn P và bị cáo Hoàng Văn D, bản thân các bị cáo đã bị xử lý về hành vi đánh bạc, song các bị cáo vẫn không phục thiện, khi có cơ hội các bị cáo vẫn cố tình vi phạm, số tiền P sử dụng đánh bạc nhiều nhất, D tuy số tiền ít hơn P nhưng D là người tham gia đánh bạc ngay từ đầu, vai trò của hai bị cáo ngang nhau, vai trò của hai bị cáo xếp sau V. Xét về nhân thân các bị cáo có nơi ở ổn định, rõ ràng, không cần thiết phải áp dụng hình phạt tù, cho bị cáo cải tạo tại địa P, dưới sự giám sát của chính quyền địa P, cũng đủ điều kiện để bị cáo tự cải tạo, trở thành công dân tốt nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật. Cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo theo quy định tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự.

- Đối với các bị cáo Quách Văn M, Hoàng Văn C, khi được rủ rê thì đồng ý ngay, vai trò hai bị cáo là ngang nhau. Xét về nhân thân, các bị cáo M, C có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Chỉ cần áp dụng hình phạt chính là phạt tiền, cũng đủ điều kiện để giáo dục các bị cáo trở thành công dân tốt.

[5] Về xử lý vật chứng - Tài sản tạm giữ:

- Đối với số tiền 17.750.000 đồng, các bị cáo dùng vào việc đánh bạc. 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 14 pro max màu vàng, thu của Nguyễn Văn P; 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 7 plus màu đen, thu của Hà Thị V, P và V sử dụng điện thoại để chuyển tiền sử dụng vào việc đánh bạc, cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.

- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, màu xanh đen lắp sim số 0387.438.160 của Hoàng Văn D, không liên quan gì đến việc phạm tội, cần trả lại cho D.

- Đối với 01 sim điện thoại số 0973.997.265 thu của Nguyễn Văn P và 01 sim điện thoại số 0397.478.868 thu của Hà Thị V, không còn giá trị kinh tế, cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân; 01 chiếu tre, các bị cáo dùng vào việc đánh bạc là tài sản của ông Nguyễn Văn Việt, ông Việt không yêu cầu nhận lại, không còn giá trị kinh tế, cần tịch thu tiêu hủy.

[6] Về án phí: các bị cáo Hà Thị V, Nguyễn Văn P, Hoàng Văn D, Quách Văn M và Hoàng Văn C phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[7] Về các vấn đề khác: trong vụ án này, ông Nguyễn Văn Việt - chủ nhà, sau khi ăn cơm, uống rượu đã đi vào trong phòng riêng của mình để ngủ nên không biết việc các bị cáo đánh bạc tại gian bếp nhà mình. Quá trình các bị cáo đánh bạc không ai phải nộp tiền gì cho ông Việt. Ông Nguyễn Văn Việt không phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: khoản 2, khoản 3 Điều 106 và Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Áp dụng: khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự.

- Khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự, đối với Hà Thị V

- Khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật hình sự đối với Nguyễn Văn P và Hoàng Văn D.

- Khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35 của Bộ luật hình sự, đối với Quách Văn M và Hoàng Văn C.

1. Tuyên bố: các bị cáo Hà Thị V, Nguyễn Văn P, Hoàng Văn D, Quách Văn M và Hoàng Văn C phạm tội: “Đánh bạc ” .

Xử phạt:

- Bị cáo Hà Thị V 12 (Mười hai) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 (Hai mươi bốn) tháng, thời hạn tính từ ngày tuyên án. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã K, huyện N, tỉnh Ninh Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa P giám sát, giáo dục.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì việc giám sát, giáo dục thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo lại cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Phạt bổ sung 10 triệu đồng.

- Nguyễn Văn P 18 (Mười tám) tháng cải tạo không giam giữ, thời hạn tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện N nhận được quyết định thi hành án. Được trừ 06 ngày tạm giữ từ 11/01/2024 đến 17/01/2024, quy đổi thành 18 ngày cải tạo không giam giữ, thời gian còn phải chấp hành là 17(Mười bảy) tháng 12(Mười hai) ngày. Khấu trừ 7% thu nhập trong thời gian cải tạo không giam giữ. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã P, huyện N, tỉnh Ninh Bình giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa P giám sát, giáo dục.

Phạt bổ sung 10 triệu đồng.

- Hoàng Văn D 18 (Mười tám) tháng cải tạo không giam giữ, thời hạn tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện N nhận được quyết định thi hành án. Được trừ 06 ngày tạm giữ từ 11/01/2024 đến 17/01/2024, quy đổi thành 18 ngày cải tạo không giam giữ, thời gian còn phải chấp hành là 17(Mười bảy) tháng 12(Mười hai) ngày. Khấu trừ 7% thu nhập trong thời gian cải tạo không giam giữ. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã V, huyện N, tỉnh Ninh Bình giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa P giám sát, giáo dục.

Phạt bổ sung 10 triệu đồng.

- Quách Văn M số tiền: 27 (Hai mươi bảy) triệu đồng.

- Hoàng Văn C số tiền: 27 (Hai mươi bảy) triệu đồng.

2. Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu, sung ngân sách Nhà nước:

+ Số tiền: 17.750.000 đồng, các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc.

+ 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 14 pro max màu vàng, thu của Nguyễn Văn P; 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 7 plus màu đen, thu của Hà Thị V, các bị cáo sử dụng để chuyển tiền dùng vào việc đánh bạc.

- Tịch thu, tiêu hủy:

+ 01 bộ bài tú lơ khơ mỗi bộ 52 quân, 01 chiếu tre, là công cụ, P tiện, các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc.

+ 01 sim điện thoại số 0973.997.265 thu của Nguyễn Văn P; 01 sim điện thoại số 0397.478.868 thu của Hà Thị V; 03 vỏ phong bì đựng điện thoại thu của Nguyễn Văn P, Hà Thị V và Hoàng Văn D, không còn giá trị kinh tế.

- Trả lại cho Hoàng Văn D 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, màu xanh đen lắp sim số 0387.438.160.

Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N và Chi cục thi hành án dân sự huyện N lập ngày 25/3/2024; Ủy nhiệm chi giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N và Chi cục thi hành án dân sự huyện N lập ngày 25/3/2024.

3. Về án phí: Buộc các bị cáo Hà Thị V, Nguyễn Văn P, Hoàng Văn D, Quách Văn M và Hoàng Văn C phải chịu án phí hình sự sơ thẩm mỗi bị cáo: 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án (28/5/2024).

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định của Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ