- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Văn D - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bùi Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠC SƠN TỈNH HÒA BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 37/2024/HS-ST Ngày: 13 - 8 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠC SƠN, TỈNH HÒA BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Cao Sơn.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Văn Ơn và bà Bùi Thị Dung.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Phương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình tham gia phiên tòa: Ông Trần Tú Giang - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 8 năm 2024 tại Tòa án nhân dân huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 33/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2024/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
BÙI VĂN D, sinh ngày 20 tháng 7 năm 1985 tại L - Hòa Bình. Nơi ĐKHKTT/Chỗ ở: Xóm T, xã Y, huyện L, tỉnh Hòa Bình; nghề nghiệp: Nông dân; trình độ văn hoá (học vấn): 9/12; dân tộc: Mường; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn Ể và bà Bùi Thị Đ; bị cáo chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Tháng 8 năm 2010 bị cưỡng chế đưa vào Trung tâm Chữa bệnh-Giáo dục - Lao động xã hội tỉnh H để cai nghiện bắt buộc 24 tháng theo Quyết định số 1761/QĐ-UBND, ngày 02/8/2010 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện L, tỉnh Hòa Bình. Bị áp dụng quản lý sau cai nghiện 18 tháng theo Quyết định số 4147/QĐ-UBND, ngày 02/7/2013 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện L, tỉnh Hòa Bình. Tháng 3 năm 2018, bị Tòa án nhân dân huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình áp dụng biện pháp xử lý hành chính Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 24 tháng theo Quyết định số 15/QĐ-TA, ngày 13/3/2018.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 21/3/2024, tạm giam từ ngày 30/3/2024. Có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Bùi Văn Q, sinh năm 1976. Trú tại: Xóm T, xã Y, huyện L, tỉnh Hòa Bình. Có mặt.
- Người tham gia tố tụng khác (Người chứng kiến): Ông Bùi Minh K, sinh năm 1978 và ông Bùi Hồng P, sinh năm 1975. Cùng trú tại: Xóm Đ, xã V, huyện L, tỉnh Hòa Bình. Đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ 40 phút, ngày 21/3/2024, tại đoạn đường km 11+50, tuyến C thuộc xóm Đ, xã V, huyện L, tỉnh Hòa Bình, Bùi Văn D bị Công an huyện L phối hợp với Công an xã V, huyện L phát hiện bắt quả tang đang tàng trữ trong lòng bàn tay phải của Bùi Văn D 02 gói giấy màu trắng bên trong chứa chất bột dạng cục màu trắng. Bị cáo Bùi Văn D khai đó là chất ma túy mua được của một người đàn ông không quen biết tại huyện K, tỉnh Hòa Bình ngày 21/3/2024 với giá 200.000 đồng mang về để sử dụng cho bản thân.
Tang vật thu giữ được tại giai đoạn điều tra và quá trình xử lý vật chứng: Vật chứng thu giữ gồm toàn bộ số ma túy thu giữ khi bắt quả tang Bùi Văn D; 01 xe môtô BKS 28S3-4567, nhãn hiệu Yamaha Nouvo bị cáo dùng để di chuyển, thuộc quyền sở hữu của ông Bùi Văn Q. Chiếc xe môtô BKS 28S3-4567 đã được Cơ quan điều tra trả lại cho ông Bùi Văn Q. Số ma tuý còn lại sau giám định được niêm phong và lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình chờ xử lý.
Tại kết luận giám định số 161/KL-KTHS, ngày 28/3/2024 của Phòng K1 - Công an tỉnh H kết luận: Các chất bột dạng cục màu trắng thu giữ từ bị cáo Bùi Văn D là H, khối lượng 0,45 (Không phẩy bốn mươi lăm) gam.
Tại Bản cáo trạng số 36/CT-VKS ngày 01/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình đã truy tố bị cáo Bùi Văn D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015. Đối với người đàn ông đã bán ma tuý cho bị cáo tại huyện K, tỉnh Hòa Bình, Cơ quan điều tra chưa xác định được nhân dạng, căn cước; đối với Bùi Văn Q là chủ sở hữu chiếc xe môtô BKS 28S3-4567 mà bị cáo dùng đi mua ma tuý do ông Q không biết, không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên Cáo trạng không đề cập xử lý.
Tại phiên tòa: Kiểm sát viên giữ nguyên nội dung quyết định truy tố, tội danh, điều khoản luật áp dụng đối với bị cáo. Xác định bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự 2015. Bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo là người dân tộc thiểu số, có trình độ văn hoá thấp, có bố mẹ đẻ là những người có công với cách mạng theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo từ 18 đến 24 tháng tù. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo do bị cáo là người không có điều kiện về kinh tế. Về vật chứng của vụ án: đề nghị tịch thu, tiêu hủy phong bì niêm phong bên trong chứa chất ma túy là mẫu vật hoàn lại sau giám định.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Bùi Văn Q khẳng định chiếc xe môtô BKS 28S3-4567 thuộc sở hữu của mình và không biết bị cáo mượn xe đi mua ma túy tàng trữ, không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo.
Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình; không có ý kiến gì về nội dung cáo trạng phản ánh; không kêu oan. Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, của Cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự nên xác nhận là hợp pháp. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử những người tham gia tố tụng không có khiếu nại, tố cáo hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng và của cơ quan tiến hành tố tụng.
Về căn cứ xác định tội danh, điều luật áp dụng đối với bị cáo: Ngày 21/3/2024, bị cáo Bùi Văn D đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý; đã để trong lòng bàn tay phải của mình 0,45 gam ma túy, loại Heroine mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma tuý. Tại giai đoạn điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai người chứng kiến, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ được và các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án. Số lượng ma túy bị cáo tàng trữ nằm trong khoảng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam. Như vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015. Cáo trạng truy tố bị cáo theo tội danh, điều khoản luật áp dụng là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Tội phạm mà bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội; đã xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền các chất gây nghiện của Nhà nước được pháp luật hình sự bảo vệ, gây mất trật tự trị an địa phương. Bản thân bị cáo là người có nhận thức xã hội, có hiểu biết pháp luật, có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự nhưng lại nghiện chất ma túy, không từ bỏ được ma túy. Ma túy là hiểm họa của xã hội, là nguyên nhân gây mất an ninh trật tự xã hội, gây ra các tệ nạn xã hội và là nguồn gốc làm phát sinh các loại tội phạm khác. Bị cáo biết rõ tác hại của ma túy, biết nhà nước cấm tàng trữ các chất ma túy nhưng vẫn cố ý thực hiện để thoả mãn nhu cầu nghiện chất ma tuý của mình. Do vậy, cần áp dụng đối với bị cáo mức hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, đủ để cải tạo bị cáo trở thành công dân có ích và để răn đe, phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự 2015. Tại giai đoạn điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đều đã thành khẩn khai báo. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015. Ngoài ra, xét bị cáo là người dân tộc thiểu số, có bố mẹ là người có công với cách mạng; mẹ bị cáo tham gia Dân công hóa tuyến và được tặng thưởng Huy chương kháng chiến Hạng Nhất, bố bị cáo được tặng thưởng Huân chương Kháng chiến Hạng Ba. Đây là tình tiết Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự 2015.
Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo là người có thu nhập không ổn định, không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng của vụ án: Vật chứng là phong bì bên trong chứa Heroine mẫu vật hoàn lại sau giám định của Phòng K1 - Công an tỉnh H là chất ma túy, là vật Nhà nước cấm tàng trữ nên cần tịch thu, tiêu hủy. Đối với chiếc xe môtô BKS 28S3 - 4567 thuộc sở hữu của ông Bùi Văn Q. Ông Q không biết bị cáo dùng xe đi mua ma tuý, không liên quan đến hành vi mua và tàng trữ trái phép chất ma tuý của bị cáo; bị cáo không tàng trữ ma tuý trong xe mà chỉ dùng làm phương tiện đi lại nên chiếc xe không phải là phương tiện phạm tội nên việc Cơ quan điều tra trả lại xe cho ông Bùi Văn Q là đúng quy định của pháp luật.
Về án phí: Bị cáo là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015;
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bùi Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Bùi Văn D 20 (Hai mươi) tháng tù, thời hạn tù tính ngày tạm giữ 21/3/2024.
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu, tiêu hủy: 01 Phong bì niêm phong của Phòng K1 - Công an tỉnh H bên trong có chứa chất ma túy còn lại sau giám định.
(Vật chứng hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình theo Biên bản giao nhận vật chứng và Phiếu nhập kho số NK 000044 ngày 02/7/2024).
4. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo Bùi Văn D phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hòa Bình; - VKSND tỉnh Hòa Bình; - Sở Tư pháp tỉnh Hòa Bình; - VKSND huyện Lạc Sơn; - Cơ quan điều tra – CA Lạc Sơn; - Bị cáo; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Chi cục THADS huyện Lạc Sơn; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Phạm Cao Sơn |