- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp về hôn nhân và gia đình"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Phương T, yêu cầu ly hôn với anh Trần Tuấn A.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 37/2024/HNGĐ-ST. Ngày: 28-6-2024. V/v “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình ly hôn, nuôi con”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm, gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Tấn Hiếu.
Các hội thẩm nhân dân:
1/ Bà Bùi Thị Hoàng;
2/ Ông Nguyễn Viết Thanh.
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Dương Hoàng Vũ - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh.
Ngày 28 tháng 6 năm 2024, tại Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 55/2024/TLST–HNGĐ, ngày 08 tháng 4 năm 2024, về việc việc “Tranh chấp về hôn nhân gia đình ly hôn, nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 225/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 05/6/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Nguyễn Thị Phương T, sinh năm 1999;
Địa chỉ: Số A, Quốc Lộ 30, Phường B, thành phố Cao Lãnh, Đồng Tháp.
- Bị đơn: Trần Tuấn A, sinh năm 1998;
Địa chỉ: Tổ T, Ấp M, xã MT, thành phố Cao Lãnh, Đồng Tháp.
Chị T có mặt, anh Tuấn A vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, trong quá trình thu thập chứng cứ và tại phiên tòa, nguyên đơn Nguyễn Thị Phương T trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị T và anh Tuấn A sống chung như vợ chồng từ năm 2016, đến năm 2018 đăng ký và được Ủy ban nhân dân xã Mỹ Tân, thành phố Cao Lãnh cấp giấy chứng nhận kết hôn. Thời gian đầu đời sống vợ chồng hạnh phúc, đầu năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên tranh cải, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, chị T không còn sống chung với anh Tuấn A từ giữa năm 2019 đến nay. Chị T đã nhiều lần tìm cách hàn gắn tình cảm nhưng không thành, mâu thuẩn ngày càng trầm trọng. Nhận thấy, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chị T yêu cầu được ly hôn với anh Tuấn A.
- Về con chung:
Chị T và anh Tuấn A có 02 con chung tên Trần Nguyễn Bảo A, sinh ngày 11/01/2017 và Trần Nguyễn Bảo B, sinh ngày 17/6/2018. Hiện nay, Bảo A đang sống với chị T, Bảo B đang sống với anh Tuấn A.
Chị T yêu cầu được trực tiếp nuôi Trần Nguyễn Bảo A, đồng ý để anh Tuấn A trực tiếp nuôi Trần Nguyễn Bảo B. Chị T không yêu cầu cấp dưỡng và không tự nguyện cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong quá trình thu thập chứng cứ, bị đơn Trần Tuấn A không có văn bản ý kiến trả lời.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Theo đơn khởi kiện, chị T yêu cầu ly hôn với anh Tuấn A, địa chỉ: Tổ 14, Ấp 4, xã Mỹ Tân, thành phố Cao Lãnh. Căn cứ vào khoản 1, Điều 28; điểm a, khoản 1, Điều 35; Điều 36 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền thụ lý, giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh.
Tòa án đã tống đạt triệu tập hợp lệ cho bị đơn Trần Tuấn A đến lần thứ hai, tuy nhiên anh Tuấn A vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ vào điểm b, khoản 2, Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
Về nội dung:
- Xét về quan hệ hôn nhân: Chị T và anh Tuấn A đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Mỹ Tân, thành phố Cao Lãnh, được cấp Giấy chứng nhận kết hôn là hôn nhân hợp pháp.
Theo chị T trình bày, đầu năm 2019 chị T và anh Tuấn A phát sinh nhiều mâu thuẫn, thường xuyên tranh cải, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, nên không còn sống chung từ giữa năm 2019 đến nay. Hội đồng xét xử xét thấy, chị T và anh Tuấn A không còn sống chung đã năm năm, trong quá trình thu thập chứng cứ anh Tuấn A cũng không có văn bản ý kiến về quan hệ hôn nhân, thể hiện anh Tuấn A không quan tâm đến quan hệ vợ chồng, đời sống hôn nhân không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Tại phiên tòa, chị T cương quyết yêu cầu được ly hôn với anh Tuấn A. Theo Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình quy định khi đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được thì Tòa án giải quyết cho ly hôn. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị T, yêu cầu ly hôn với anh Tuấn A.
- Về con chung:
Chị T và anh Tuấn A có 02 con chung tên Trần Nguyễn Bảo A, sinh ngày 11/01/2017 và Trần Nguyễn Bảo B, sinh ngày 17/6/2018. Chị T trình bày Bảo A đang sống với chị T, Bảo B đang sống với anh Tuấn A.
Chị T yêu cầu được trực tiếp nuôi Trần Nguyễn Bảo A, đồng ý để anh Tuấn A trực tiếp nuôi Trần Nguyễn Bảo B. Trong quá trình thu thập chứng cứ, anh Tuấn A không có văn bản ý kiến về con chung và yêu cầu của chị T cũng phù hợp với nguyện vọng của con chung Trần Nguyễn Bảo A và điều kiện sinh sống của con chung hiện nay. Do đó, chấp nhận yêu cầu của chị T.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị T không yêu cầu cấp dưỡng và không tự nguyện cấp dưỡng nuôi con, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về tài sản chung và nợ chung: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị T phải chịu 300.000 đồng theo khoản 2 Điều 147 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ: Các điều 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
2. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Phương T, yêu cầu ly hôn với anh Trần Tuấn A.
3. Về con chung:
- Chị Nguyễn Thị Phương T được trực tiếp nuôi con chung Trần Nguyễn Bảo A sinh ngày 11/01/2017, hiện đang sống với chị T.
- Anh Trần Tuấn A được trực tiếp nuôi con chung Trần Nguyễn Bảo B, sinh ngày 17/6/2018, hiện đang sống với anh Tuấn A.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Chị T và anh Tuấn A không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con và cũng không tự nguyện cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc ảnh hưởng xấu đến việc đến việc trong nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
4. Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
5. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân, nhưng được khấu trừ vào số tiền đã nộp 300.000 đồng, theo biên lai số 0009615, ngày 04/4/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cao Lãnh. Chị T đã nộp xong án phí, anh Tuấn A không phải chịu án phí.
6. Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được tống đạt hợp lệ bản án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - VKSND TPCL; - TAND tỉnh ĐT; - Các đương sự. - Lưu. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Tấn Hiếu |