- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Thị Tưởng Chứa mại dâm - phạm tội chứa mại dâm (điều 327 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về Điều luật áp dụng, Tội danh và Hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 327; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự:
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH SƠN LA Bản án số: 37/2023/HSST Ngày 20 tháng 11 năm 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Bá Toàn
Các Hội thẩm nhân dân: Quàng Văn Tiện, ông Trần Thành Vân
- Thư ký phiên toà:
Ông Trần Quốc Huy - Thư ký Toà án nhân dân huyện Sông Mã
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã tham gia phiên toà:
Bà Lò Thị Thanh - Kiểm sát viên .
Ngày 20 tháng 11 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 41/2023/TLST-HS ngày 09 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2023/QĐXXST- HS ngày 10 tháng 11 năm 2023, đối với bị cáo:
Họ và tên: Vũ Thị T - Sinh ngày 18/7/1973; Nơi cư trú: Tổ dân phố 2 thị trấn S, huyện S, Sơn La; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ giáo dục phổ thông: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Chức vụ, đảng phái: Không; Con ông Vũ Văn P (đã chết) và bà Phan Thị T; có chồng là Trần Văn V và có 02 con đều đã trưởng thành; Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 07/11/2001 bị Công an huyện Sông Mã xử phạt hành chính về hành vi Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có.
Bị tạm giữ, giam từ ngày 08/8/2023 cho đến nay. Có mặt.
* Người có quyền lợi liên quan:
- Anh Là Văn C - Sinh năm 1996; Nơi cư trú: Bản X, xã C, Sông Mã, Sơn La. Vắng mặt.
- Chị Quách Thị N - Sinh năm 1985; Nơi cư trú: Xóm A, xã T, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hoà Bình. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 11 giờ 05 phút ngày 08/8/2023 Tổ công tác Đội Cảnh sát hình sự phối hợp với Đội Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội Công an huyện Sông Mã và Công an thị trấn Sông Mã làm nhiệm vụ tại Tổ dân phố 2 thị trấn Sông Mã phát hiện tại phòng 15 nhà nghỉ Bình Minh do Vũ Thị T là chủ có một đôi nam nữ là Quách Thị N và Là Văn C, đang thực hiện hành vi mua bán dâm, Tổ công tác lập biên bản sự việc và thu giữ của C 01 bao cao su đã qua sử dụng, 01 điện thoại di động, số tiền 50.000đ; thu giữ của N 02 bao cao su chưa qua sử dụng, 01 điện thoại di động. Sau đó Tổ công tác mời Vũ Thị T đến Công an làm việc T giao nộp số tiền 500.000đ do C đưa (trong đó 100.000đ là tiền thuê phòng nghỉ và 400.000đ sẽ trả cho N) và 01 điện thoại di động.
Ngày 11/8/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Sông Mã ra Quyết định trưng cầu giám định đối với số tiền thu giữ là 01 tờ tiền mệnh giá 500.000đ và 01 tờ tiền mệnh giá 50.000đ.
Kết luận giám định số 1996 ngày 14/8/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, kết luận: "01 tờ tiền VNĐ mệnh giá 500.000 đồng và 01 tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng gửi giám định là tiền thật".
Quá trình điều tra Vũ Thị T khai nhận: Vũ Thị T kinh doanh Nhà nghỉ Bình Minh từ năm 2018, khoảng đầu tháng 2/2023 Quách Thị N trú tại xóm A, xã T, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hoà Bình (là người đi làm ở quán Karaoke) đến thuê phòng nghỉ của T để ở theo tháng, T cho N thuê phòng số 09, sau khi quen biết N khoảng đầu tháng 7/2023 T có nói với N việc bán dâm để có thêm thu nhập, N đồng ý và thống nhất khi nào khách đến nghỉ có nhu cầu mua dâm T sẽ gọi N, T với N thoả thuận khi có khách đến hỏi mua dâm T thu 500.000đ, trong đó tiền phòng của T là 100.000đ, tiền bán dâm của N là 400.000đ. Vào khoảng 10 giờ ngày 08/8/2023 có Là Văn C đến hỏi thuê phòng, sau khi thuê được phòng C hỏi T “Cô có nhân viên không?”, T hiểu ý của C hỏi nhân viên nữ để mua dâm, T nói không có nhưng sau đó C bảo T cố gắng tìm cho một nhân viên nữ thì T đồng ý, T nói với C “Tiền phòng là 100.000đ, còn tiền nhân viên nữ là 400.000đ”, C lấy tờ tiền mệnh giá 500.000đ đưa cho T, T nhận tiền rồi bảo C lên tầng 2, thấy phòng nào trống thì vào, C đi lên tầng 2 vào phòng số 15 rồi gọi điện thoại vào số 0392280025 của T nói cho T biết C ở phòng 15, sau đó T gọi điện thoại di động qua ứng dụng Zalo cho N nhưng N không nghe, nên T nhắn tin vào Zalo cho N ghi nội dung “Phòng 15, nó đưa cô 500”, sau khi nhắn tin xong do sợ bị phát hiện nên Tưởng xoá tin nhắn đi. Còn N khi ngủ dậy thì thấy tin nhắn của T , N hiểu ý nói là có khách mua dâm đang ở phòng số 15 và đã đưa 500.000đ, N vệ sinh cá nhân xong đi lên tầng 2 vào phòng số 15, khi N và C đang quan hệ tình dục thì bị Tổ công tác Công an huyện Sông Mã kiểm tra phát hiện và lập biên bản sự việc, thu giữ vật chứng như đã nêu trên.
Quá trình điều tra Vũ Thị T và Quách Thị N khai nhận, đây là lần đầu tiên T nhận tiền và chứa chấp cho N bán dâm tại nhà nghỉ của mình.
Cáo trạng số 216/CT-VKSSM ngày 09 tháng 11 năm 2023 Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã, truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Sông Mã để xét xử Vũ Thị T về tội Chứa mại dâm, theo quy định tại khoản 1 Điều 327 Bộ luật Hình sự.
Đối với Quách Thị N có hành vi bán dâm và Là Văn C có hành vi mua dâm xét tính chất mức độ cơ quan Công an huyện Sông Mã đã xử phạt hành chính tại Quyết định số 0012219, 0012220 ngày 08/8/2033.
Tại phiên toà kiểm sát viên thực hiện quyền công tố phát biểu quan điểm luận tội, sau khi phân tích nội dung vụ án, các tài liệu chứng cứ đã thu thập trong quá trình điều tra cũng như diễn biến tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tuyên bố bị cáo Vũ Thị T phạm tội Chứa mại dâm.
Căn cứ khoản 1 Điều 327, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo từ 01 năm - 01 năm 04 tháng tù.
- Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 500.000đ, 01 chiếc điện thoại di động của bị cáo. Trả lại cho Là Văn C số tiền 50.000đ, 01 điện thoại. Trả lại cho Quách Thị Ng 01 điện thoại di động. Tịch thu tiêu hủy 03 bao cao su.
- Buộc bị cáo chịu án phí theo quy định. Tuyên quyền kháng cáo cho bị cáo, người có quyền lợi liên quan.
Tài liệu trong hồ sơ, người có quyền lợi liên quan anh Là Văn C trình bày: Vào ngày 08/8/2023 anh có đến thuê phòng nghỉ tại nhà nghỉ Bình Minh, khi đến thuê phòng anh đã nhờ chủ nhà nghỉ bố trí nhân viên nữ phục vụ và đã đưa cho chủ nhà nghỉ 500.000đ (chủ nhà nghỉ có nói là tiền phòng là 100.000đ, tiền nhân viên là 400.000đ, sau đó anh và nhân viên nữ đang quan hệ tình dục thì bị Công an bắt quả tang.
Tài liệu trong hồ sơ, người có quyền lợi liên quan anh Quách Thị N trình bày: Vào ngày 08/8/2023 khi chị đang ngủ ở phòng nghỉ 09 nhà nghỉ Bình Minh (phòng nghỉ chị thuê theo tháng) thì thấy có cuộc gọi điện thoại, sau đó chị nhận được tin nhắn qua ứng dụng Zalo thì nhận được tin nhắn của Vũ Thị T là chủ nhà nghỉ với nội dung "phòng 15, nó đưa cô 500", chị hiểu là có khách mua dâm, sau đó chị lên phòng 15 thì có một nam thanh niên ở đó, sau đó hai người có quan hệ tình dục, khi đang quan hệ thì bị Công an bắt quả tang.
Tại phiên tòa bị cáo nhất trí với nội dung bản cáo trạng và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, không có ý kiến tranh luận, khi được nói lời sau cùng bị cáo đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định của Cơ quan, Người tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện Sông Mã, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người có quyền lợi liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng. Do vậy các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về sự vắng mặt của người có quyền lợi liên quan: Tại phiên toà người có quyền lợi liên quan Là Văn C vắng mặt, tuy nhiên lời khai trong hồ sơ đã làm rõ việc ngày 08/8/2023 Là Văn C và Quách Thị N khi đang quan hệ tình dục tại phòng 15 nhà nghỉ Bình Minh thì bị Công an bắt giữ, trước đó Là Văn C đã đến thuê phòng nghỉ và nhờ chủ nhà nghỉ là Vũ Thị T tìm nhân viên nữ để mua dâm và đã đưa cho Vũ Thị T số tiền 500.000đ (là số tiền trả tiền phòng và nhân viên nữ). Xét thấy sự vắng mặt của người có quyền lợi liên quan không ảnh hưởng đến việc xét xử đối với bị cáo, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt là đảm bảo theo quy định.
Về tình tiết định tội: Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, vẫn giữ nguyên lời khai như đã khai tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Sông Mã, không thay đổi, bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của vụ án và hoàn toàn nhất trí với nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã. Bị cáo khẳng định việc khai báo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa là hoàn toàn tự nguyện, đúng với sự việc đã thực hiện.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các Biên bản làm việc lập vào hồi 11h05 và 12h20 ngày 08/8/2023; Vật chứng bị thu giữ; Các biên bản ghi lời khai, biên bản hỏi cung đối với bị cáo về thời gian, địa điểm, diễn biến việc thực hiện hành vi phạm tội; Biên bản ghi lời khai của người chứng kiến và phù hợp với các chứng cứ khác trong hồ sơ.
Từ những căn cứ nêu trên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Vũ Thị T là chủ nhà nghỉ Bình Minh, vào tháng 02/2023 Quách Thị N đến thuê phòng ở theo tháng, trong thời gian quen biết đến đầu tháng 7/2023 T nói với N nếu có khách đến nghỉ có nhu cầu mua dâm T sẽ gọi cho N đồng thời sẽ nhận tiền mua dâm của khách cho N , N nhất trí. Khoảng 10 giờ ngày 08/8/2023 khi có Là Văn C đến thuê phòng nghỉ và hỏi T việc mua dâm, T đã thu của C số tiền 500.000đ (trong đó 100.000đ tiền thuê phòng và tiền mua dâm là 400.000đ) sau đó gọi cho N đến bán dâm, khi C và N đang quan hệ tình dục thì bị Tổ công tác Công an huyện Sông Mã kiểm tra phát hiện lập biên bản sự việc, thu giữ vật chứng, tài sản liên quan. Hành vi Vũ Thị T thực hiện đã phạm tội Chứa mại dâm
- Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 327 Bộ luật Hình sự.
Viện kiểm sát nhân dân huyện truy tố và Tòa án nhân dân huyện xét xử bị cáo là đúng người, đúng tội, không oan sai cho bị cáo.
Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, bị cáo nhận thức được việc chứa mại dâm là vi phạm pháp luật nhưng vì hám lời đã bất chấp pháp luật cố tình thực hiện tội phạm, hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm trật tự công cộng, làm ảnh hưởng đến trật tự trị an ở địa phương.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; ngoài ra bị cáo có chú là liệt sỹ, ông ngoại được Chủ tịch nước tặng Huy chương kháng chiến chống Mỹ hạng nhất - Do vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Về nhân thân năm 2001 bị Công an huyện Sông Mã xử phạt hành chính về hành vi Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có.
Cần căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo để quyết định một mức hình phạt phù hợp, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm trừng phạt, cải tạo, giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật, răn đe, phòng ngừa và thực hiện nhiệm vụ đấu tranh phòng tội phạm tại địa phương.
Về hình phạt bổ sung: Quá trình điều tra xác định bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng vụ án: Đối với số bao cao su là vật liên quan đến vụ án cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với số tiền 500.000đ và chiếc điện thoại di động thu của bị cáo do liên quan đến việc phạm tội cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
Đối 02 điện thoại di động thu của Là Văn C và Quách Thị N tuy có sử dụng vào việc trao đổi thông tin liên quan đến việc mua bán dâm, nhưng hành vi mua bán dâm không là tội phạm nên cần trả lại cho Là Văn C và Quách Thị N . Đối với số tiền 50.000đ thu của Là Văn C không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại.
Về vấn đề khác liên quan đến vụ án: Đối với Quách Thị N có hành vi bán dâm và Là Văn C có hành vi mua dâm đã phạm vào quy định tại khoản 1 Điều 24, khoản 1 Điều 25 của Nghị định số 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ, về Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy, chữa cháy; cứu hộ; phòng, chống bạo lực gia đình. Ngày 08/8/2023 Công an huyện Sông Mã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính là đảm bảo quy định.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định chung.
Về đề nghị của Kiểm sát viên: Đề nghị của Kiểm sát viên về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt và các vấn đề liên quan khác là phù hợp, nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về Điều luật áp dụng, Tội danh và Hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 327; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự:
Tuyên bố: Bị cáo Vũ Thị T phạm tội Chứa mại dâm
Xử phạt bị cáo Vũ Thị T 01 (một) năm tù - Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 08/8/2023.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
2. Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy: 03 chiếc bao cao su.
(02 chiếc được đựng trong một phong bì do Bưu điện Việt Nam phát hành được niêm phong, giấy dán niêm phong có mã số 066514; 01 chiếc được đựng trong một phong bì do Bưu điện Việt Nam phát hành được niêm phong, giấy dán niêm phong có mã số 066513).
- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 500.000đ thu của Vũ Thị Tưởng.
- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu VIVO, loại Y16 thu của Vũ Thị T .
- Trả lại cho Quách Thị N 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone.
- Trả lại cho Là Văn C 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, loại 1280 và số tiền 50.000đ.
Theo Quyết định chuyển vật chứng số 206/QĐ-VKSSM ngày 09/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã và Biên Bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày ngày 10/11/2023 giữa Công an huyện Sông Mã và Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Sông Mã.
3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Các Điều 21, 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:
Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi liên quan có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 20/11/2023). Người có quyền lợi liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định./.
| Nơi nhận: - TAND Tỉnh Sơn La; - VKSND Tỉnh Sơn La; - VKSND huyện Sông Mã; - Công an huyện Sông Mã; - Trại giam; - THA hình sự; - Chi cục THADS; - Sở TP; - Bị cáo; -Người có qllq; - Lưu: Hồ sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Bá Toàn |