vanban.org

Bản án 37/2023/HSST — Hình sự

TAND huyện Quốc Oai, TP. Hà Nội Tuyên án 12/06/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đức S 15 (mười lăm) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời hạn đã tạm giữ từ ngày 03/3/2023 đến ngày 10/3/2023.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a, khoản 2, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Đức S bị truy tố về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm I, khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015. - phạm tội tàng trữ…"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đức S 15 (mười lăm) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời hạn đã tạm giữ từ ngày 03/3/2023 đến ngày 10/3/2023.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…; Luật Phí và lệ phí
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN QUỐC OAI
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 37/2023/HSST
Ngày 12 tháng 6 năm 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỐC OAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Long

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Hoa

2. Ông Nguyễn Văn Đức

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu – Thẩm tra viên chính.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quốc Oai tham gia phiên tòa:

Bà Lương Thị Hương – Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội đưa ra xét xử công khai vụ án hình sự thụ lý số: 39/2023/TL - HSST ngày 01 tháng 6 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2023/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 6 năm 2023 đối với:

* Bị cáo Nguyễn Đức S, sinh năm 1990; Nơi cư trú: thôn 3, xã P, huyện Q, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Không; Văn hóa: 10/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Họ và tên bố: Nguyễn Đắc N, sinh năm 1964; Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị M, sinh năm 1968; Gia đình có 02 chị em, bị cáo là con út. Vợ: Thân Thị T, sinh năm 1994 con: có 02 con, lớn sinh năm 2017, nhỏ sinh năm 2019. Tiền án: Ngày 28/9/2015, Tòa án nhân dân huyện Quốc Oai xử phạt 12 tháng tù về tội Cố ý làm hư hỏng tài sản, ra trại ngày 06/5/2019, ngày 09/5/2023 nộp án phí, chưa được xóa án tích. Tiền sự: Ngày 15/4/2022, Ủy ban nhân dân xã Phượng Cách ra Quyết định cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng, chấp hành xong ngày 16/10/2022; quản lý sau cai từ 16/10/2022 đến 16/10/2023. Nhân thân: Năm 23/9/2010, Ủy ban nhân dân huyện Quốc Oai ra Quyết định đưa áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 24 tháng; quản lý sau cai đến ngày 25/9/2014 về địa phương. Bị cáo đầu thú ngày 03/3/2023, bị tạm giữ từ ngày 03/3/2023 đến ngày 10/3/2023 được thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại tại địa phương. Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 20 giờ ngày 28/02/2023, tổ công tác Công an huyện Quốc Oai phối hợp với Công an xã Phượng Cách làm nhiệm vụ tại khu vực sân bóng đá thuộc thôn 3, xã Phượng Cách, huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội, tiến hành kiểm tra hành chính đối với Nguyễn Đức S đang điều khiển xe máy Honda Wave màu đỏ - đen BKS 30M6 – 0580. S thấy tổ công tác thì dùng tay trái vứt bỏ xuống đường 02 túi ni lông màu trắng, bỏ lại xe mô tô Honda Wave BKS 30M6 – 0580, nhảy xuống ao gần đó bỏ chạy thoát. Cơ quan điều tra đã phát hiện, thu giữ tại vị trí phía trước bên trái lốp trước của xe mô tô 01 túi ni lông màu trắng kích thước 5x8 cm chứa tinh thể màu trắng; tại vị trí lốp sau xe mô tô 01 túi ni lông kích thước 2,5x3 cm chứa 04 viên nén hình tròn màu xám. Tổ công tác đã lập biên bản ghi nhận sự việc xảy ra và tạm giữ 01 xe mô tô Hon da Wave BKS 33M6-0580 và 02 túi ni lông chứa vật nghi là ma túy nêu trên; kiểm tra xe mô tô BKS 33M6-0580, Cơ quan điều tra không phát hiện thu giữ gì.

Ngày 03/3/2023, Nguyễn Đức S đến Cơ quan CSĐT Công an huyện Quốc Oai “đầu thú” và khai nhận về hành vi tàng trữ trái phép đối với số ma túy nêu trên nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của người chứng kiến; vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập được trong quá trình điều tra vụ án.

Đối với đối tượng bán ma túy cho S, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhưng không xác định được lai lịch, nên không có căn cứ để điều tra, xử lý.

Kết luận giám định số 1286/KL-KTHS ngày 09 tháng 3 năm 2023 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội kết luận: “tinh thể màu trắng bên trong 01 túi ni lông màu trắng là ma túy loại Ketamine, khối lượng 1,037 gam; 04 viên nén màu xám bên trong 01 túi ni lông màu trắng đều là ma túy loại MDMA, tổng khối lượng 1,616 gam”.

Cáo trạng số 33/CT-VKSQO ngày 29 tháng 5 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm I, khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Kiểm sát viên - Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm vụ án và đưa ra những chứng cứ, lý lẽ kết luận: Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm I, khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015. Tại phiên tòa bị cáo khai nhận thành khẩn toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo theo đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Đề nghị về hình phạt: Áp dụng điểm I, khoản 1 Điều 249; Điều 38; bị cáo đầu thú, bị cáo có ông nội được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhì, hạng nhất và thành khẩn khai báo, được áp dụng điểm s, khoản 1; khoản 2, Điều 51 và áp dụng điểm h, khoản 1, Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 “tái phạm” do bị cáo chưa được xoá án tích. Đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo mức án từ 18 tháng đến 24 tháng tù. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Đề nghị về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Tịch thu và tiêu hủy: 03 phong bì màu trắng được niêm phong dán kín (có ký hiệu lần lượt là M1, M2, M3), tại các mép dán của phong bì có chữ ký của người chứng kiến (Đỗ thị Luyến) giám định viên của phòng PC09 và cán bộ công an huyện Quốc Oai.

Sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa luận tội, bị cáo đồng ý với tội danh mà Viện kiểm sát truy tố và không có tranh luận bào chữa gì về mức án. Trong lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về với gia đình.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo và người làm chứng.

NHẬN ĐỊNH HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

[1] Quá trình điều tra, truy tố liên quan đến đến việc giải quyết vụ án (Về hành vi, các quyết định tố tụng), Điều tra viên, Kiểm sát viên đã tiến hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

[2] Nội dung: Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thừa nhận toàn bộ diễn biến vụ án đúng như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 28 tháng 02 năm 2023, tại khu vực sân bóng đá thuộc thôn 3, xã Phượng Cách, huyện Quốc Oai, bị cáo có hành vi tàng trữ trái phép 1,037 gam Ketamine và 1,616 gam MDMA với mục đích sử dụng cho bản thân, nhưng chưa kịp sử dụng thì Công an huyện Quốc Oai kiểm tra hành chính, bị cáo vứt bỏ lại ma túy và chiếc xe mô tô Honda Wave BKS 33M6- 0580 chạy thoát thân. Cơ quan điều tra đã phát hiện, thu giữ toàn bộ vật chứng. Ngày 03/3/2023, bị cáo đến Cơ quan điều tra “đầu thú” và khai nhận hành vi phạm tội của mình như nêu trên.

Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng, kết luận giám định cùng các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i, khoản 1, Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự trị an xã hội tại địa phương. Xét nhân thân bị cáo: Tiền án ngày 28/9/2015, Tòa án nhân dân huyện Quốc Oai xử phạt 12 tháng tù về tội Cố ý làm hư hỏng tài sản, ra trại ngày 06/5/2019, ngày 09/5/2023 nộp án phí, chưa được xóa án tích. Tiền sự: Ngày 15/4/2022, Ủy ban nhân dân xã Phượng Cách ra Quyết định cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng, chấp hành xong ngày 16/10/2022; quản lý sau cai từ 16/10/2022 đến 16/10/2023. Nhân thân: Năm 23/9/2010, Ủy ban nhân dân huyện Quốc Oai ra Quyết định đưa áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 24 tháng; quản lý sau cai đến ngày 25/9/2014 về địa phương. Bị cáo có tình tiết tăng nặng “tái phạm” quy định tại điểm h, khoản 1, Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 do chưa nộp tiền án phí của bản án năm 2015. Do vậy cần thiết phải có hình phạt tương xứng áp dụng đối với hành vi phạm tội của bị cáo mới có đủ tác dụng cải tạo, giáo dục thành người có ích cho xã hội và phòng ngừa làm gương cho người khác biết tôn trọng pháp luật.

Khi xem xét, quyết định mức hình phạt đối với bị cáo: Hội đồng xét xử xét thái độ của bị cáo tại phiên tòa thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải với hành vi phạm tội của mình, bố đẻ tham gia cách mạng, ông nội của bị cáo là người có công với cách mạng, được Chủ tịch nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhì, hạng nhất. Sau khi phạm tội bị cáo ra “đầu thú”, do đó cần thiết áp dụng điểm s, khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 để giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo.

Đối với đối tượng bán cho bị cáo ma túy, Cơ quan điều tra không làm rõ được lai lịch nên không có cơ sở để xử lý.

[3] Xử lý vật chứng: Tịch thu và tiêu hủy 03 phong bì màu trắng được niêm phong dán kín (có ký hiệu lần lượt là M1, M2, M3), tại các mép dán của phong bì có chữ ký của người chứng kiến (Đỗ thị Luyến) giám định viên của phòng PC09 và cán bộ công an huyện Quốc Oai.

[4] Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về Điều luật áp dụng, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và về xử lý vật chứng phù hợp các quy định của pháp luật nên được chấp nhận.

[5] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các căn cứ, nhận định của Hội đồng xét xử;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ điểm i, khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm h, khoản 1, Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015.

- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đức S 15 (mười lăm) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời hạn đã tạm giữ từ ngày 03/3/2023 đến ngày 10/3/2023.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

- Xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a, khoản 2, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu và tiêu hủy: 03 (ba) phong bì màu trắng được niêm phong dán kín (có ký hiệu lần lượt là M1, M2, M3), tại các mép dán của phong bì có chữ ký của người chứng kiến (Đỗ thị Luyến) giám định viên của phòng PC09 và cán bộ công an huyện Quốc Oai, phía trước của các phong bì đều ghi: công an TP Hà Nội, đơn vị: công an huyện Quốc Oai, ngày niêm phong: 01/3/2023, theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 47/2023/THA ngày 05 tháng 6 năm 2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội.

- Án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Luật phí và lệ phí số: 97/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015; Điều 23, Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;

Bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày 12 tháng 6 năm 2023./.

Cỡ chữ