- Tranh chấp gì? án hình sự — "PĐP 249 - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƢƠNG Bản án số: 37/2023/HS-ST Ngày: 16 – 02 – 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tuyết Ánh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Bà Nguyễn Thị Hoàng Trang.
2/ Bà Lê Thị Thiện.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Kim Hạnh, Thƣ ký Toà án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Phan Văn Tuân - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 390/2022/TLST-HS ngày 29 tháng 12 năm 2022, theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 21/2023/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 3 năm 2023 đối với bị cáo:
PĐP, sinh năm 1984 tại tỉnh An Giang; Nơi đăng ký hộ khẩu thƣờng trú: Ấp 1, xã V, thị xã C, tỉnh An Giang; Nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Phật giáo; Quốc tịch: Việt Nam; con ông C, sinh năm 1955 và bà Q, sinh năm 1957; Bị cáo chƣa có vợ, con;
Tiền án: Không.
Tiền sự:
- Ngày 25/01/2021, bị Công an phƣờng A, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản” theo Quyết định số 125/QĐ-XPVPHC ngày 25/01/2021, mức phạt 1.500.000 đồng, bị cáo chƣa chấp hành.
- Ngày 13/4/2016, bị Tòa án nhân dân thị xã B, tỉnh Bình Dƣơng ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đƣa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 31/QĐ-TA, thời hạn 18 tháng. Ngày 26/4/2017, Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Bình Dƣơng có quyết định miễn chấp hành phần thời gian áp dụng biện pháp xử lý hành chính còn lại số 21/2017/QĐ-TA.
- Ngày 01/7/2020, bị Công an phƣờng A, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo Quyết định số 515/QĐ/XPVPHC ngày 01/7/2020, mức tiền phạt 750.000 đồng, bị cáo đã chấp hành xong ngày 24/7/2020.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 05 tháng 7 năm 2022 cho đến nay.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông H, sinh năm 1992; HKTT: Ấp D, xã N, huyện C, tỉnh Đồng Nai.
Người làm chứng: Ông VH, sinh năm 1973, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Vào khoảng 23 giờ 45 phút ngày 05/7/2022, tổ tuần tra Cảnh sát cơ động Công an tỉnh Bình Dƣơng tiến hành tuần tra theo kế hoạch trên địa bàn thành phố Thuận An, khi đến đoạn đƣờng E thuộc khu phố B, phƣờng A, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng phát hiện PĐP đang điều khiển xe mô tô biển số 59U1 – 320.83 có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu dừng xe kiểm tra thì P điều khiển xe mô tô bỏ chạy. Thấy có dấu hiệu tội phạm nên tổ tuần tra tiến hành truy đuổi đến trƣớc Văn phòng khu phố B, phƣờng A, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng thì P dừng lại lấy trong túi áo khoác đang mặc ra 01 túi nylon, miệng kéo dính bên trong có 05 túi nylon miệng kéo dính đều chứa tinh thể màu trắng (nghi vấn ma túy tổng hợp) rồi ném xuống đƣờng thì bị tổ tuần tra phát hiện. P khai nhận tinh thể màu trắng P ném xuống đƣờng là ma túy đá của P cất giấu nhằm mục đích sử dụng, tổ tuần tra tiến hành lập biên bản, niêm phong tang vật, giao P cùng tang vật, tài sản cho Công an phƣờng A để xử lý. Cùng ngày, Công an phƣờng A chuyển giao nguồn tin tội phạm cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An điều tra theo thẩm quyền.
Vật chứng thu giữ gồm: 01 (một) túi nylon miệng kéo dính bên trong có chứa 05 (năm) túi nylon miệng kéo dính đều chứa tinh thể màu trắng; 01 (một) xe mô tô biển số 59U1 – 320.83.
Qua điều tra, bị cáo PĐP khai nhận: Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên khoảng 16 giờ 30 phút ngày 05/7/2022, PĐP điều khiển xe mô tô biển số 59U1 – 320.83 đến khu vực chợ Bà Chiểu thuộc Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh gặp đối tƣợng tên M (chƣa xác định đƣợc nhân thân, địa chỉ) xin ma túy để sử dụng và đƣợc M cho 01 (một) túi nylon miệng kéo dính loại lớn đựng bên trong là 05 (năm) túi nylon miệng kéo dính loại nhỏ đều chứa ma túy đá, P cất giấu trong túi quần đem về khu vực phƣờng A, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng để sử dụng thì bị phát hiện, bắt giữ.
Tại Phiếu trả lời kết quả về xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 06/7/2022 của Trung tâm y tế thành phố Thuận An xác định PĐP có nghiện ma túy, loại Methamphetamine (MET), MethylenAMP Dioxy Methamphetamine (AMP).
Theo Bản kết luận giám định số 331/KL-KTHS (MT) ngày 12/7/2022 cuả Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng kết luận: Mẫu tinh thể gửi giám định là ma túy, có khối lƣợng 0,9237 gam, loại Methamphetamine.
Cáo trạng số 17/CT-VKSTA ngày 28/12/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng đã truy tố bị cáo PĐP về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo và đề nghị:
Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo PĐP từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù.
Về xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bì thƣ đƣợc niêm phong, kí hiệu số 331/PC09 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng là mẫu vật hoàn lại sau giám định.
Đối với xe mô tô biển số 59U1 – 320.83, quá trình điều tra xác định Phi mƣợn xe mô tô này của một ngƣời bạn quen biết ngoài xã hội tên “T” (chƣa xác định đƣợc lai lịch, địa chỉ), ở khu vực Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh để làm phƣơng tiện đi lại. Biển số 59U1 – 320.83 gắn trên xe mô tô nêu trên là của xe mô tô có số khung: GKA12ED7D-019590, số máy: VMVT5AD-019590 do bà T, sinh năm 975; HKTT: Phƣờng 01, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh đứng tên chủ sở hữu nhƣng bà T đã chết từ tháng 10/2022. Kết luận giám định số 526-3/KL-KTHS (SKSM) ngày 14/7/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng xác định: Xe mô tô hiệu YAMAHA, số loại NOUVO SX/2XC1, xy lanh 124,9cm3, gắn biển số 59U1 – 320.83 có số khung: RLCSE9210FY017317, số máy: E3R7E-017325 không đổi, không phát hiện cắt hàn, đục sửa. Kết quả xác minh thông tin phƣơng tiện giao thông cơ giới đƣờng bộ xác định: Xe mô tô hiệu YAMAHA, số loại NOUVO SX-2XC1, xy lanh 124,9cm3, có số khung: RLCSE9210FY017317, số máy: E3R7E-017325 có biển số thực là 60B6 – 333.71 do ông H đứng tên chủ sở hữu, tuy nhiên ông Huy hiện không có mặt tại nơi cƣ trú, không biết đang ở đâu nên không làm việc đƣợc. Kết quả tra cứu cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng đối với xe mô tô tạm giữ của PĐP không có trong cơ sơ dữ liệu xe máy vật chứng. Cơ quan điều tra đã có Công văn yêu cầu Đài phát thanh và truyền hình tỉnh Bình Dƣơng phát thông báo tìm chủ sở hữu nhƣng chƣa có kết quả, do đó cần tiếp tục giao xe mô tô và biển số nêu trên cho cơ quan Cảnh sát điều tra công an thành phố Thuận An xác minh, làm rõ xử lý theo quy định.
- Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, thống nhất tội danh, khung hình phạt mà Viện kiểm sát đề nghị áp dụng, không có ý kiến tranh luận. Lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt, để bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm, trở thành công dân tốt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:
Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Thuận An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và những ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Lời khai nhận của bị cáo PĐP tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan Điều tra, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án nhƣ biên bản bắt ngƣời phạm tội quả tang, kết luận giám định, lời khai của ngƣời làm chứng, vật chứng thu giữ, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Vào khoảng 23 giờ 45 phút ngày 05/7/2022, tại đoạn đƣờng E thuộc khu phố B, phƣờng A, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng, bị cáo PĐP thực hiện hành vi tàng trữ 0,9237 gam ma túy loại Methamphetamine với mục đích để sử dụng thì kiểm tra phát hiện bắt quả tang.
Hành vi của bị cáo PĐP đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng ngƣời, đúng tội và đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo nhận thức đƣợc hành vi cố ý tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm mục đích sử dụng là vi phạm pháp luật Hình sự nhƣng để thỏa mãn cơn nghiện, bị cáo đã cất giấu ma túy, hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ độc quyền về quản lý chất ma túy của Nhà nƣớc, gây mất trật tự, trị an tại địa phƣơng. Vì vậy phải xét xử mức án tƣơng xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm đảm bảo tính giáo dục riêng cho bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đƣợc quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Lời đề nghị mức hình phạt của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa có căn cứ, đúng luật, phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nên đƣợc chấp nhận.
Về xử lý vật chứng:
- Đối với 01 (một) bì thƣ đƣợc niêm phong, ghi vụ số 331/MT-PC09 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng là mẫu vật hoàn lại sau giám định cần tịch thu, tiêu hủy.
- Đối với xe mô tô hiệu YAMAHA, số loại NOUVO SX-2XC1, xy lanh 124,9cm3, có số khung: RLCSE9210FY017317, số máy: E3R7E-017325 gắn biển số 59U1 – 320.83 cần tiếp tục giao cho cơ quan Cảnh sát điều tra công an thành phố Thuận An xác minh, làm rõ xử lý theo quy định.
Đối với đối tƣợng M đƣa ma túy cho bị cáo P, thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. Do đó, cơ quan Cảnh sát điều tra công an thành phố Thuận An đã chuyển thông tin tội phạm cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận B, Thành phố Hồ Chí Minh điều tra, xác minh theo thẩm quyền.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
- Điều 106, 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015;
- Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Về trách nhiệm hình sự:
Tuyên bố bị cáo PĐP phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo PĐP 02 (hai) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05/7/2022.
2. Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) bì thƣ niêm phong, bên ngoài ghi số vụ 331/MT- PC09 là mẫu vật hoàn lại sau giám định của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng.
- Giao 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, số loại NOUVO SX-2XC1, xy lanh 124,9cm3, có số khung: RLCSE9210FY017317, số máy: E3R7E-017325, biển kiểm soát 59U1 – 320.83 cho Công an thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng để xử lý theo quy định.
(Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 30/12/2022 giữa Công an thành phố Thuận An và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thuận An).
3. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo:
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dƣơng; - VKSND tỉnh Bình Dƣơng; - VKSND thành phố Thuận An; - Chi cục THADS thành phố Thuận An; - Cơ quan CSĐT Công an TP. Thuận An; - Cơ quan THAHS Công an TP. Thuận An; - Sở Tƣ pháp tỉnh Bình Dƣơng; - Bị cáo; ngƣời tham gia tố tụng; - Lƣu: HS, THAHS, AV. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Tuyết Ánh |