vanban.org

Bản án 37/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 17/02/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Ngọc L phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Về hình phạt: 1 Hình phạt chính: Xử phạt Bị cáo Lê Ngọc L 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 29/9/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma tuý - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Ngọc L phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
  • Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ PHỔ YÊN
TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 37/2023/HS-ST
Ngày: 17 - 02- 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Âu Văn Hồ

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Hồng Hải

2. Bà Nguyễn Thị Thanh

- Thư ký Toà án: ông Trần Anh Tuấn - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên toà: Bà Lê Phương Thùy - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 02 năm 2023 tại Tòa án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 04/2023/TLST-HS ngày 06 tháng 01 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 22/2023/QĐXXST-HS ngày 02/02/2023 đối với:

Bị cáo: Lê Ngọc L; Tên gọi khác: Không.

Sinh năm: 1995 tại Đông Sơn, Thanh Hóa; Giới tính: Nam.

Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: thôn Kiệm, xã Đông Thanh, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

Nơi ở hiện tại: thôn Cổ Miếu, xã Phật Tích, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không.

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 7/12.

Chức vụ Đảng, chính quyền, đoàn thể: Không.

Bố: Lê Ngọc M (đã chết); Mẹ: Lường Thị T, sinh năm 1961; Gia đình có 04 chị em, bị cáo là con út; Vợ, con: Chưa có.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 29/9/2022, đến ngày 08/10/2022 chuyển tạm giam, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Nguyên.

(Có mặt tại phiên tòa)

* Người chứng kiến:

1.Trần Phi H, sinh năm 1962,

Địa chỉ: TDP 4, phường Ba Hàng, thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên

2.Vũ Ngọc Q, sinh năm 1991

Địa chỉ: TDP Soi Trại, phường Đông Cao, thành phố Phổ Yên, Thái Nguyên

(Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 17 giờ 40 phút ngày 29/9/2022, tổ công tác của Công an thành phố Phổ Yên và Công an phường Trung Thành, thành phố Phổ Yên tiến hành tuần tra kiểm soát đảm bảo an ninh trật tự tại tổ dân phố Kim Tỉnh, phường Trung Thành, thành phố Phổ Yên thì phát hiện Lê Ngọc L có biểu hiện tàng trữ trái phép chất ma túy tại khu vực bãi đất trống trong khu công nghiệp Trung Thành. Tổ công tác yêu cầu kiểm tra thì L tự lấy từ trong bàn tay phải giao nộp cho tổ công tác 01 (một) túi ni lông, bên trong có chứa chất rắn màu trắng đục. Theo L khai số chất rắn màu trắng đục là ma túy loại Heroine do L mua về để sử dụng. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với L, niêm phong vật chứng thu giữ để giải quyết theo quy định.

Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Phổ Yên phối hợp với Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên tiến hành mở niêm phong, cân khối lượng toàn bộ số chất rắn màu trắng đục thu giữ của Lê Ngọc L, được 0,106 gam, cho toàn bộ số chất rắn màu trắng đục vào phong bì ký hiệu Y gửi giám định. Tại bản Kết luận giám định số 1560/KL-KTHS ngày 07/10/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên, kết luận: Chất rắn màu trắng đục trong phong bì ký hiệu Y gửi giám định là chất ma tuý; loại Heroine; khối lượng là: 0,106 gam.

Tại Cơ quan điều tra, Lê Ngọc L khai nhận: Khoảng 16 giờ chiều ngày 29/9/2022, L bắt xe khách từ chỗ làm tại huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh đến khu vực tổ dân phố Kim Tỉnh, phường Trung Thành, thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên để mua ma túy sử dụng cho bản thân. Khi đến nơi, L xuống xe rồi đi bộ đến trước cửa một ngôi nhà có cửa bằng sắt khoét một lỗ nhỏ nằm bên trái hành lang đường Quốc lộ 3 cũ hướng Thái Nguyên đi Hà Nội. L cầm số tiền 100.000đ (một trăm nghìn đồng) đưa qua lỗ cửa sắt vào bên trong ngôi nhà thì có người trong nhà cầm tiền rồi đưa ra ngoài cho L 01 (một) túi ni lông, bên trong có chứa ma túy Heroine. L không biết chủ nhân ngôi nhà và người bán ma túy cho mình là ai. Sau khi mua được ma túy, L mang ma túy vào trong khu công nghiệp Trung Thành ở gần đó tìm bãi đất trống để sử dụng nhưng chưa kịp sử dụng thì bị lực lượng Công an kiểm tra và thu giữ toàn bộ số ma túy L vừa mua được. Mục đích L mua ma túy là để sử dụng, ngoài ra không có mục đích gì khác.

Vật chứng thu giữ: - 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu Y, bên trong chứa số ma túy và vỏ bao gói hoàn lại sau giám định; - 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu L, bên trong chứa vỏ bao mẫu L kho được chuyển đến kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phổ Yên chờ xử lý.

Do có hành vi nêu trên, nên tại bản Cáo trạng số: 17/CT-VKSPY ngày 05/ 01/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Lê Ngọc L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, sau khi kết thúc phần thẩm vấn công khai, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên thực hành quyền công tố tại phiên tòa trình bày bản luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố như bản Cáo trạng số: 17/CT-VKSPY ngày 05/01/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên và đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Ngọc L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

2. Về hình phạt: Áp dụng Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017;

Xử phạt: Bị cáo Lê Ngọc L mức án từ 15 đến 18 tháng tù giam.

3. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

4. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

* Tịch thu tiêu hủy: - 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu Y, bên trong chứa 0,100 gam ma tuý Heroine hoàn lại sau giám định và vỏ bao gói.

- 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu L, bên trong chứa vỏ bao mẫu L kho.

5. Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm; Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo theo quy định pháp luật.

Trong phần tranh luận, bị cáo không tranh luận gì với quan điểm đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát về tội danh, mức hình phạt đề nghị áp dụng.

Nói lời sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm hòa nhập cộng đồng, thành người có ích cho xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Phổ Yên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, Kiểm sát viên trong điều tra, truy tố: Trong quá trình điều tra, truy tố Cơ quan điều tra Công an thành phố Phổ Yên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo Lê Ngọc L tại phiên toà là hoàn toàn khách quan, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập hợp lệ trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định, biên bản thu giữ vật chứng và lời khai của những người tham gia tố tụng khác, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Do bản thân là người nghiện chất ma túy nên vào hồi 17 giờ 40 phút ngày 29/9/2022, tại khu vực tổ dân phố Kim Tỉnh, phường Trung Thành, thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên; Lê Ngọc L đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,106 gam ma túy loại Heroine. Tại bản Kết luận giám định số 1560/KL-KTHS ngày 07/10/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên, kết luận: Chất rắn màu trắng đục trong phong bì ký hiệu Y gửi giám định là chất ma tuý; loại Heroine; khối lượng là: 0,106 gam. mục đích sử dụng cho bản thân thì bị Công an thành phố Phổ Yên phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng. Hành vi, ý thức của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Do đó, bản Cáo trạng số: 17/CT-VKSPY ngày 05/01/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên đã truy tố bị cáo Lê Ngọc L với tội danh và điều luật đã viện dẫn là có căn cứ.

Nội dung điều luật quy định:

“Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:...

c) Heroine… có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.

. Xét tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nguyên nhân, động cơ dẫn đến việc phạm tội, Hội đồng xét xử thấy:

Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, hành vi phạm tội của bị cáo thuộc loại tội nghiêm trọng, xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, gây mất trật tự trị an tại địa phương, nên cần phải xử lý nghiêm bằng pháp luật hình sự.

Nguyên nhân, động cơ dẫn đến việc phạm tội là do bị cáo không chịu lao động, tu dưỡng, rèn luyện nên đã mắc nghiện ma túy, để phục vụ cho nhu cầu của bản thân, bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội như trên.

. Xét các yếu tố về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thì thấy:

- Về nhân thân: Qua phân tích các yêu cấu tố về nhân thân người phạm tội, Hội đồng xét xử thấy: Quá trình sinh sống tại địa phương bị cáo chưa có tiền án, tiền sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, do đó, Hội đồng xét xử có căn cứ cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đó là: “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

. Xét tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, các yếu tố về nhân thân khi quyết định hình phạt đối với bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Tệ nạn xã hội đã và đang là vấn đề nhức nhối trong xã hội, gây nhiều ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống nhân dân. Trong đó, tệ nạn ma túy được xem là một trong những tệ nạn cần được sớm loại bỏ và ngăn chặn sự lây lan trong cộng đồng. Mặt khác, ma túy không chỉ là một tệ nạn mà đó còn là nguyên nhân làm băng hoại, cướp đi tuổi trẻ, tương lai, thậm chí là mạng sống của hàng triệu người. Do đó việc đưa bị cáo ra xét xử là cần thiết.

Hành vi phạm tội của bị cáo không những gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, chính trị tại địa phương, mà còn là nguyên nhân làm phát sinh thêm các loại tội phạm khác nên cần áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo ra hỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo mới đảm bảo được tính nghiêm minh của pháp luật, đồng thời răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Mức án mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo là phù hợp được chấp nhận.

. Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 còn quy định:

“…5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản…”

Tuy nhiên, qua xem xét thấy bị cáo là người nghiện ma túy, không có việc làm, không có thu nhập ổn định, phạm tội không vì mục đích vụ lợi nên miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho bị cáo.

. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy:

- 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu Y, bên trong chứa 0,100 gam ma tuý Heroine hoàn lại sau giám định và vỏ bao gói.

- 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu L, bên trong chứa vỏ bao mẫu L kho.

. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách nhà nước.

. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

. Các vấn đề khác của vụ án: Về nguồn gốc số ma túy thu giữ của Lê Ngọc L, theo L khai mua tại ngôi nhà có cửa bằng sắt bên trái hành lang đường Quốc lộ 3 cũ hướng Thái Nguyên đi Hà Nội thuộc tổ dân phố Kim Tỉnh, phường Trung Thành, thành phố Phổ Yên. L không biết chủ nhân ngôi nhà và người bán ma túy cho mình là ai nên Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, xử lý sau là phù hợp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điều 46, Điều 47; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Áp dụng Điều 106, Điều 136, Điều 329, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Ngọc L phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

2. Về hình phạt:

2.1 Hình phạt chính: Xử phạt Bị cáo Lê Ngọc L 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 29/9/2022.

- Quyết định tạm giam bị cáo Lê Ngọc L 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo công tác thi hành án.

2.2 Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Lê Ngọc L theo khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự.

3. Về Biện pháp tư pháp:

*. Tịch thu tiêu hủy:

- 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu Y, bên trong chứa 0,100 gam ma tuý Heroine hoàn lại sau giám định và vỏ bao gói.

- 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu L, bên trong chứa vỏ bao mẫu L kho.

(Số vật chứng trên được chuyển đến bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục thi hành án Dân sự thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên theo biên bản giao nhận ngày 09/01/2023)

4. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách nhà nước.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ