- Tranh chấp gì? án hình sự — "tang tru trai phep chat ma tuy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Võ Tấn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ GIA NGHĨA TỈNH ĐẮK NÔNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 37/2023/HS-ST Ngày: 11-5-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ GIA NGHĨA, TỈNH ĐẮK NÔNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Ngọc
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Hoàng Công Hội;
2. Bà Nguyễn Thanh Thu Hằng
- Thư ký phiên tòa: Bà Lương Thúy Hảo – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Dung - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 05 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 19/2023/TLST-HS ngày 17 tháng 03 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23a/2023/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 4 năm 2023, đối với bị cáo:
Võ Tấn D, sinh năm: 1991 tại tỉnh Lâm Đồng; nơi ĐKHKTT: Thôn N, xã Đ, thành phố G, tỉnh Đắk Nông; nơi ở hiện nay: Tổ 3, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Ngọc B và bà Phạm Ngọc H; chưa có vợ, con; tiền án: tại Bản án hình sự sơ thẩm số 96/2015/HS-ST ngày 29/12/2015 của Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng, bị xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 28-11-2022
- Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 20h00 ngày 28/11/2022 Võ Tấn D đang ở tại xã Q, huyện Đ thì nhận được cuộc gọi Zalo của một người bạn tên H (chưa xác định được nhân thân) rủ đến phòng số 16 nhà nghỉ Hoàng Gia thuộc tổ 2, phường Nghĩa T, TP. G để sử dụng ma túy. D điều khiển xe mô tô BKS 66H3-0584 đi đến địa chỉ trên thì gặp H cùng 02 người nam giới (đều chưa xác định được nhân thân, trong đó có 01 người tên thường gọi là C) đang sử dụng ma túy. Thấy vậy, D cũng tham gia sử dụng ma túy cùng những người này.
Đến khoảng 22h30’ cùng ngày thì hết ma túy nên D điều khiển xe mô tô BKS 66H3-0584 chở C đi mua ma túy để tiếp tục sử dụng. D đi theo sự chỉ dẫn của C, khi đến khu vực ngã tư gần UBND phường N, D dừng xe đứng chờ còn C một mình đi mua ma túy. Khoảng 20 phút sau C quay lại đưa cho D 01 túi màu đen kiểu túi đeo chéo trước người bên trong có chứa ma túy. C điều khiển xe D ngồi sau, đi theo hướng về cầu Đăk Nông sau đó vòng qua đường Tôn Đức Thắng; khi đến ngã tư giao nhau với đường Ngô Mây thuộc tổ 5, phường N thì D xuống xe đứng đợi C đi việc riêng. Đến 23h50’ trong lúc đứng đợi C thì D bị lực lượng Công an TP. Gia Nghĩa tuần tra, phát hiện bắt quả tang bên trong chiếc túi màu đen D đang đeo có 01 túi nilon màu cam chứa tinh thể màu trắng.
Bản kết luận giám định số 338/KL-KTHS ngày 02/12/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đăk Nông, kết luận tinh thể màu trắng đựng trong túi nilon màu cam được niêm phong gửi giám định là ma túy Methamphetamine, khối lượng 0,3843 gam. Hoàn trả sau giám định 0,3154 gam ma túy Methamphetamine niêm phong trong bì thư ký hiệu 338/PC09.
Cáo trạng số: 24/CT-VKS-GN ngày 15-03-2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Gia Nghĩa truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình và thừa nhận Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội danh, khoản và điều luật áp dụng như Cáo trạng là đúng người, đúng pháp luật.
Kết quả tranh luận tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố. Sau khi phân tích nội dung vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Võ Tấn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 01 năm 06 tháng – 02 năm tù.
Căn cứ Điều 47 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, đề nghị:
Tịch thu tiêu hủy các vật chứng gồm khối lượng ma túy còn lại sau giám định, 01 túi đeo chéo. Trả lại 02 chiếc điện thoại di động cho bị cáo.
Bị cáo không tranh luận, bào chữa gì, chỉ xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: Vào khoảng 23h50’ ngày 28/11/2022 tại tổ 5, phường N, TP. G, lực lượng Công an TP. Gia Nghĩa đã bắt quả tang Võ Tấn D tàng trữ 0,3843 gam ma túy Methamphetamine. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến hoạt động quản lý độc quyền của Nhà nước đối với chất ma túy. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là phạm tội nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Do đó, có đủ căn cứ kết luận Võ Tấn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy“ tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định:
1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
… …
c) Methamphetamine … có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
...
. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương, là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tệ nạn xã hội và các tội phạm khác. Do đó, cần áp dụng hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, đồng thời nhằm giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm.
. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự cần áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
. Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo phạm tội khi đang còn tiền án, do đó phải chịu tình tiết tăng năng trách nhiệm hình sự là tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
. Về xử lý vật chứng:
- Đối với khối lượng ma túy còn lại sau giám định là vật cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 02 điện thoại di động của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội cần trả lại cho bị cáo.
. Ông Hà Thanh T là chủ nhà nghỉ H không biết sự việc các đối tượng sử dụng ma túy tại nhà nghỉ nên không có căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự.
. Đối tượng tên H có hành vi rủ rê bị cáo D cùng sử dụng ma túy và 02 nam thanh niên có hành vi sử dụng ma túy tại nhà nghỉ (trong đó có 01 người tên C cùng Võ Tấn D đi mua ma túy) đều chưa xác định được nhân thân, lai lịch, do đó Cơ quan CSĐT Công an thành phố Gia Nghĩa tiếp tục kiểm tra xác minh, khi nào có căn cứ sẽ xử lý sau là phù hợp.
. Xét quan điểm đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Gia nghĩa là có căn cứ Hội đồng xét xử cần chấp nhận.
. Về án phí: Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự:
Tuyên bố: Bị cáo Võ Tấn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Xử phạt Võ Tấn D 02 (hai) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28-11-2022.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy khối lượng ma túy còn lại sau giám định
- Trả lại cho bị cáo Võ Tấn D 02 điện thoại di động
(Các vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 16-3-2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông)
3. Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Võ Tấn D phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đắk Nông; - Sở Tư pháp tỉnh Đắk Nông; - VKSND tỉnh Đắk Nông; - VKSND TP. Gia Nghĩa; - Phòng PV 06 và PC 10 CA tỉnh Đắk Nông; - Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Đắk Nông; - Cơ quan THAHS Công an TP. Gia Nghĩa; - Chi cục THADS TP. Gia Nghĩa; - Bị cáo; - Lưu HS, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Bùi Thị Ngọc |