- Tranh chấp gì? án hình sự — "BA - Lò Văn L - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUẦN GIÁO TỈNH ĐIỆN BIÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 37/2023/HS-ST Ngày 16/3/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUẦN GIÁO - TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Lương Thị Nga.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hà Quang Hùng và bà Bạc Thị Hồng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lợi, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo tham gia phiên toà: Ông Phạm Minh Hưng, Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 34/2023/TLST-HS ngày 21 tháng 02 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2023/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 3 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên đối với bị cáo:
Họ và tên: Lò Văn L; tên gọi khác: Không; sinh năm 1976; huyện Đ, tỉnh Điện Biên; giới tính: Nam; nơi cư trú: Bản Y, xã S, huyện Đ, tỉnh Điện Biên; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Thái; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Nông nghiệp; trình độ học vấn: Lớp 4/12; con ông Lò Văn Ú, đã chết; con bà Lò Thị N, đã chết; bị cáo đã từng có vợ là Vì Thị T, sinh năm 1976 (Đã ly hôn) và có 02 người con, con lớn nhất sinh năm 1999, con nhỏ nhất sinh năm 2000; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân bị cáo: Bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Điện Biên xử phạt bị cáo 07 năm 06 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy tại Bản án số 77/2014/HSST ngày 27/02/2014, đến ngày 07/9/2019 chấp hành xong về địa phương sinh sống và bị cáo chưa bị xử phạt vi phạm hành chính; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/12/2022 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện Tuần Giáo; bị cáo được trích xuất áp giải và có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ 00 phút ngày 04/12/2022, Bị cáo L đi bộ một mình từ nhà tại bản Y, xã S, huyện Đ, tỉnh Điện Biên đến bản P, xã P, huyện iện Biên, tỉnh Điện Biên để tìm mua Heroine để sử dụng. Khi đến khu vực bản Pom Lót, bị cáo gặp một người phụ nữ không quen biết, khoảng 25 tuổi, dáng người cao gầy; khi gặp người phụ nữ này, do không biết chỗ mua Heroine nên bị cáo đã hỏi người phụ nữ này. Qua trao đổi, L đã mua được của người phụ nữ không quen biết này 01 gói Heroine được gói bằng túi nilon màu trắng với giá 100.000đ. Sau khi mua được gói Heroine, L cất giấu gói Heroine vào trong túi quần bên phải đang mặc. Sau đó bị cáo bắt taxi của một người đàn ông không quen biết ra bến xe khách bản Phủ, xã Noong Hẹt, huyện Điện Biên để đón xe khách đi làm thuê. Khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày, bị cáo lên xe khách nhà xe Quỳnh Hưng biển kiểm soát 27B-001.06 chạy tuyến Điện Biên - Thái Bình để đi xuống Thái Bình làm thuê. Khi lên xe bị cáo nằm ở ghế thứ 5 tầng 2 hàng ghế đơn, bên cạnh phụ xe. Đến 18 giờ 45 phút cùng ngày, khi xe chạy đến khu vực bản Tân Lập, xã Quài Tở, huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên thì bị tổ công tác Công an huyện Tuần Giáo phối hợp với tổ công tác theo kế hoạch 1266 - Công an tỉnh Điện Biên kiểm tra xe khách, phát hiện, bắt quả tang, thu giữ của bị cáo 01 gói nilon màu trắng nghi ma túy. Tổ công tác đã lập biên bản thu giữ vật chứng và đưa bị cáo cùng vật chứng về Cơ quan điều tra để điều tra, làm rõ.
Tại Biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại vật chứng ngày 07/11/2022, có sự chứng kiến của bị cáo đã xác định như sau: 01 gói nilon màu trắng bên trong có chứa chất bột màu trắng nghi Heroine, được xác định khối lượng là 0,15 gam. Cơ quan cảnh sát điều tra đã trích 0,08 gam làm mẫu giám định và ra Quyết định trưng cầu giám định số: 235/QĐ-CSĐT, ngày 05/12/2022. Tại bản Kết luận giám định số: 01/KL-KTHS ngày 12/12/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên đã kết luận: Mẫu chất bột màu trắng trích ra từ vật chứng thu giữ của Lò Văn L gửi giám định là chất Ma túy: Loại Heroin (Heroine).
Tại Cáo trạng số: 20/CT-VKS-TG ngày 20 tháng 02 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên; đã truy tố bị cáo về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy. Tại phiên tòa Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS; khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS tuyên tịch thu vật chứng còn lại của vụ Lò Văn L, có khối lượng 0,07 gam Heroine để tiêu hủy. Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo nộp án phí hình sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa, bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, xem xét miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Xét về hành vi phạm tội của bị cáo:
Qua quá trình tranh tụng công khai tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi của mình phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án như Biên bản bắt người phạm tội quả tang (BL 01-02), Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ (BL03), Biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại vật chứng (BL37-38), Kết luận giám định (BL44) và các chứng cứ khác trong hồ sơ; do đó Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Ngày 04/12/2022, bị cáo bị bắt quả tang khi đang có hành vi cất giấu trên người của bị cáo 0,15 gam Heroine. Nguồn gốc Heroine bị cáo mua của một người phụ nữ không rõ lai lịch, với giá 100.000 đồng (Một trăm nghìn đồng) với mục đích sử dụng. Hành vi tàng trữ 0,15 gam Heroine nhằm mục đích sử dụng của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Vì vậy Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo truy tố và Kiểm sát viên luận tội là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự; hành vi của bị cáo đã vi phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy; hành vi của bị cáo là nghiêm trọng, gây mất trật tự trị an tại địa phương và làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự ổn định, phát triển của xã hội. Hơn nữa bị cáo đã từng phạm tội về ma túy và được Nhà nước cải tạo giáo dục nhưng không lấy đó làm bài học để cải tạo giáo dục, rèn luyện bản thân mà đến năm 2022 bị cáo tái sử dụng ma túy, để có ma túy sử dụng bị cáo đã bất chấp quy định của pháp luật mua ma túy. Qua đó thấy rằng bị cáo có thái độ coi thường pháp luật, thiếu ý thức rèn luyện; chính vì vậy đối với lần phạm tội này HĐXX cần có mức hình phạt thật nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho gia đình và xã hội.
Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Về nhân thân của bị cáo: Bị cáo đã bị Tòa án nhân dân huyện Điện Biên xử phạt 07 năm 06 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy, đến ngày 07/9/2019 chấp hành xong về địa phương sinh sống, tính đến lần phạm tội này bị cáo đã được xóa án tích. Bị cáo chưa bị xử lý hành chính. Vì vậy bị cáo không có tiền án, tiền sự.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Quá trình tố tụng bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Theo khoản 5 Điều 249 BLHS quy định; bị cáo còn có thể bị phạt bổ sung bằng tiền, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Tuy nhiên, xét điều kiện hoàn cảnh của bị cáo không có khả năng thi hành; nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo đã đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bị cáo phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và tuyên mức hình phạt đối với bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù; Hội đồng xét xử xét thấy về đề nghị mức hình phạt là phù hợp với tính chất, mức độ, hành vi, tình tiết giảm nhẹ của bị cáo nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Đối với người phụ nữ bị cáo khai đã bán ma túy cho bị cáo, nhưng khi mua bị cáo không hỏi tên tuổi địa chỉ ở đâu nên không có cơ sở xác minh làm rõ, do đó tại vụ án này HĐXX không xem xét.
Về vật chứng: Hội đồng xét xử thấy rằng cần căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS và khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS để xử lý vật chứng như sau: Đối với vật chứng còn lại sau trích giám định của vụ Lò Văn L có khối lượng 0,07 gam Heroine đây là chất Nhà nước cấm tàng trữ nên cần tịch thu tiêu hủy.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; HĐXX xét thấy bị cáo thuộc trường hợp phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.
Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử thấy rằng: Không có ý kiến khiếu nại các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng theo quy định của Pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự:
1. Về tội danh:
Tuyên bố bị cáo Lò Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Lò Văn L 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù; thời gian thi hành án phạt tù tính từ ngày 04/12/2022.
3. Vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS và khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tuyên tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong màu trắng, các mép đều được dán kín, mặt trước phong bì có ghi vật chứng còn lại vụ Lò Văn L bên trong có 0,07 gam Heroine, 01 mảnh nilon màu trắng, 01 vỏ phong bì cũ dùng để niêm phong vật chứng. (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 27/02/2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tuần Giáo và Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuần Giáo).
4. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án bị cáo Lò Văn L phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 332; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (Ngày 16/3/2023).
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Điện Biên; - VKSND tỉnh Điện Biên; - Phòng HC, Sở tư pháp tỉnh Điện Biên; - Bộ phận HSNV, Công an huyện Tuần Giáo; - VKSND huyện Tuần Giáo; - Chi cục THADS huyện Tuần Giáo; - Bị cáo; - Lưu. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Bạc Thị Hồng Hà Quang Hùng Lý A Thu Trịnh Quyết Thắng | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà Lương Thị Nga HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lương Thị Nga Lương Thị Nga |