- Tranh chấp gì? án hình sự — "Quàng Văn L - Tàng trữ trái phép chất ma tuý - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Quàng Văn L phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƢỜNG ẢNG TỈNH ĐIỆN BIÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 37/2023/HS-ST Ngày: 06-3-2023 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƢỜNG ẢNG - TỈNH ĐIỆN BIÊN
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Phƣơng
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông: Vƣơng Đình Hoàng
2. Bà: Bùi Thị Việt Hà
- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Hồng Hạnh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên tham gia phiên tòa: Ông Phạm Duy Thanh - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 3 năm 2023, Tòa án nhân dân huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên mở phiên tòa xét xử trực tuyến (Điểm cầu trung tâm tại trụ sở TAND huyện Mường Ảng; Điểm cầu thành phần, 01 điểm cầu tại trụ sở Công an huyện Mường Ảng) công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 39/2023/TLST-HS, ngày 20 tháng 02 năm 2023, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39/2023/QĐXXST-HS ngày 21/02/2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Quàng Văn L; Tên gọi khác: Không; sinh năm: 1988 tại huyện MA, tỉnh Điện Biên. Nơi cư trú: Bản PV, xã XL, huyện MA, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Nông nghiệp; trình độ văn hóa: 12/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Thái; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông: Quàng Văn D sinh năm 1958 và bà Quàng Thị T sinh năm 1958; Gia đình bị cáo có 05 chị em, bị cáo là con thứ 04 trong gia đình; Bị cáo sống chung như vợ chồng với chị Bùi Thị L sinh năm 1982 từ năm 2013 đến năm 2018 và có 01người con sinh năm 2013; Tiền án; tiền sự: không. Nhân thân: Chưa bị xét xử; đã bị xử phạt hành chính: Năm 2008 bị phạt “Cảnh cáo” về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý. Bị cáo bị tạm giam, giữ từ ngày 02/11/2022 cho đến nay được trích xuất, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo: Bà Hà Thị T - trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Điện Biên (Có mặt).
* Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Quàng Văn V sinh năm 1995. Nơi cư trú: Bản PV, xã XL, huyện MA, tỉnh Điện Biên. (Vắng mặt)
- Ông Quàng Văn D sinh năm 1958. Nơi cư trú: Bản PV, xã XL, huyện MA, tỉnh Điện Biên. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, bị cáo Quàng Văn L bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Khoảng 15 giờ 00 phút ngày 02/11/2022 Quàng Văn L tự ý lấy xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA loại SIRIUS, BKS: 27B1-392.37 của em trai Quàng Văn V (đang đi làm thuê) để ở nhà cho bố là Quàng Văn Dvà gia đình sử dụng để đi lên khu vực bản Khén, xã XL tìm mua ma túy để sử dụng. Khi đi đến đường ngã ba bản K và bản CS, xã XL L gặp một người đàn ông dân tộc Mông không biết tên tuổi đang đứng dọc đường. Qua trao đổi L mua được của người đàn ông dân tộc Mông 01 túi nilon màu xanh có chứa 195 viên Methamphetamine và 01 gói nilon màu xanh có 13 viên Methamphetamine với giá 1.500.000 đồng. Mua được Methamphetamine L kẹp tại nách bên trái và điều khiển xe về nhà. Đến 18 giờ 45 phút cùng ngày L đi đến khu vực bản CH, xã XL thì bị tổ công tác số 05 thực hiện Kế hoạch 1266 Công an tỉnh Điện Biên phối hợp cùng Công an huyện Mường Ảng đang làm nhiệm vụ phát hiện bắt quả tang, thu giữ toàn bộ 208 viên Methamphetamine có tổng khối lượng 19,94 gam.
Theo biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy mẫu giám định ngày 02/11/2022 của Công an huyện Mường Ảng và Kết luận giám định số 1442/KL-KTHS, ngày 08/11/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Điện Biên đã kết luận:
- Khối lượng vật chứng thu giữ của Quàng Văn L là 19,94 gam
- 02 (hai) mẫu viên nén màu hồng ký hiệu GĐ1, GĐ2 trích ra từ vật chứng thu giữ của Quàng Văn L gửi giám định là chất ma túy: Loại Methamphetamine.
Tại bản cáo trạng số: 08/CT-VKSMA ngày 20/02/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên đã truy tố ra trước Toà án nhân dân huyện Mường Ảng để xét xử bị cáo Quàng Văn L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, vị đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Quàng Văn L. Đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự tuyên bố bị cáo Quàng Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt Quàng Văn L từ 08 năm đến 08 năm 06 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
* Về vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1, khoản 2 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2, khoản 3 Điều 106 BLTTHS. Đề nghị Hội đồng xét xử: Tịch thu để tiêu hủy 19,24 gam methamphetamine là vật chứng còn lại của vụ án sau khi lấy mẫu giám định cùng toàn bộ vỏ bao bì ban đầu; Trả lại 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, màu sơn xanh đen, loại SIRIUS, BKS 27B1-392.37, số khung RLCUE1740GY010049, số máy E3T6E060551, xe đã cũ qua sử dụng và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy mang tên Quàng Văn V cho ông Quàng Văn D.
- Án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, thuộc diện hộ nghèo và có đơn xin miễn án phí. Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS, điểm đ khoản 1 điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Đề nghị Hội đồng xét xử miễn án phí HSST.
Người bào chữa cho bị cáo Quàng Văn L nhất trí với nội dung cáo trạng đã truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm g khoản 2 Điều 249 BLHS là đúng người, đúng tội đúng pháp luật. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo được qui định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Đề nghị Hội đồng xét xử khi quyết định hình phạt xem xét cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất có thể. Bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, thuộc diện hộ nghèo và có đơn xin miễn án phí, đề nghị Hội đồng xét xử miễn toàn bộ án phí HSST cho bị cáo và không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Bị cáo Quàng Văn L thừa nhận toàn bộ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy như cáo trạng truy tố. Bị cáo nhất trí nội dung bản Cáo trạng, bản luận tội của VKSND huyện Mường Ảng cũng như bài bào chữa của người bào chữa cho bị cáo và bị cáo không có tranh luận gì.
Bị cáo nói lời sau cùng trước khi nghị án: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án và đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Nội dung vụ án:
Qua phần tranh tụng công khai tại phiên tòa bị cáo Quàng Văn L đã khai và công nhận: Vào hồi 18 giờ 45 phút ngày 02/11/2022 tại khu vực bản CH, xã XL, huyện MA, tỉnh Điện Biên bị cáo bị bắt vì đang tàng trữ trái phép 19,94 gam Methamphetamine, mục đích của bị cáo tàng trữ ma túy để sử dụng. Lời khai nhận tội của bị cáo trước phiên tòa ngày hôm nay phù hợp với các tài liệu và chứng cứ có trong hồ sơ, cũng như cáo trạng số 08/CT-VKS-MA, ngày 20/02/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Ảng đã truy tố.
Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội; Bị cáo tàng trữ trái phép 19,94 đủ định lượng buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 BLHS.
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi phạm tội của mình là nguy hiểm cho xã hội nhưng vẫn thực hiện. Do vậy Hội đồng xét xử có đủ căn cứ pháp lý để xét xử bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự. Tại khoản 2 Điều 249 BLHS quy định: “Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:
… Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam”.
[2] Xét về tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm: Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp tội phạm rất nghiêm trọng, gây nguy hại rất lớn cho xã hội có mức cao nhất của khung hình phạt đến 10 năm tù, được quy định tại khoản 1 Điều 9 Bộ luật hình sự năm 2015. Vì vậy bị cáo phải chịu hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội đã gây ra.
[3] Xét về hậu quả của hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra: Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã xâm phạm trực tiếp đến sự độc quyền của nhà nước trong lĩnh vực quản lý và sử dụng các chất ma túy, đã tiếp tay cho các loại tội phạm gia tăng, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an trên địa bàn, cần phải được xử lý nghiêm.
[4] Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo: Bị cáo sinh ra và lớn lên tại huyện MA, tỉnh Điện Biên được bố mẹ nuôi cho ăn học hết lớp 12/12. Do thiếu ý thức rèn luyện, tu dưỡng đạo đức để thỏa mãn nhu cầu xấu của cá nhân nên đã bất chấp pháp luật, đi vào con đường phạm tội. Bị cáo nhận thức rõ việc tàng trữ, mua bán ma túy là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý mua và tàng trữ trái phép chất ma túy với mục đích để sử dụng. Vì vậy, cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để cải tạo bị cáo trở thành người có ích cho gia đình và xã hội; tuy nhiên, tại phiên tòa cũng như trong quá trình điều tra, bị cáo đã thành khẩn khai báo thể hiện sự ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình nên khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cần xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS năm 2015 cho bị cáo. Bị cáo không phạm các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 của BLHS năm 2015.
Bị cáo với nghề nghiệp làm nông nghiệp, gia đình bị cáo khó khăn về kinh tế, sinh sống ở khu vực có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn. Do vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[5] Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
Đối với người đàn ông dân tộc Mông bị cáo khai đã bán ma túy cho bị cáo, do bị cáo không biết tên tuổi và địa chỉ ở đâu, Cơ quan CSĐT không có đủ cơ sở xác minh làm rõ nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Quá trình điều tra xác định Quàng Văn V và Quàng Văn D không biết bị cáo L dùng chiếc xe máy để đi mua ma túy nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[6] Về vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1, khoản 2 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2, khoản 3 Điều 106 BLTTHS. Hội đồng xét xử:
- Tịch thu để tiêu hủy 19,24 gam methamphetamine là vật chứng còn lại của vụ án sau khi lấy mẫu giám định cùng toàn bộ vỏ bao bì ban đầu.
- Trả lại 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, màu sơn xanh đen, loại SIRIUS, BKS 27B1-392.37, số khung RLCUE1740GY010049, số máy E3T6E060551, xe đã cũ qua sử dụng và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy mang tên Quàng Văn V cho ông Quàng Văn D (Bị cáo bị bắt về hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý và bị thu giữ 01 chiếc xe mô tô trên. Khi bị cáo sử dụng xe mô tô đi mua và tàng trữ trái phép chất ma tuý, gia đình bị cáo không biết).
[7] Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn án phí. Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS, điểm đ khoản 1 điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Hội đồng xét xử miễn án phí HSST cho bị cáo.
[8] Căn cứ Điều 331, Điều 333 BLTTHS: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
[9] Quyết định truy tố của VKSND huyện Mường Ảng; ý kiến của vị đại diện VKS, ý kiến của bị cáo, người bào chữa cho bị cáo qua phần tranh tụng công khai tại phiên tòa về tội danh, hình phạt và các vấn đề khác liên quan đến vụ án. Hội đồng xét xử thấy phù hợp với nội dung vụ án và nhận định của Hội đồng xét xử nên cần chấp nhận.
[10] Trong quá trình điều tra, truy tố: Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng qui định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố: Bị cáo Quàng Văn L phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng: Điểm g Khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt: Quàng Văn L 08 (tám) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam (Ngày 02 tháng 11 năm 2022).
2. Vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1, khoản 2 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2, khoản 3 Điều 106 BLTTHS:
+ Tịch thu tiêu hủy: 19,24 gam Methamphetamine là vật chứng còn lại sau khi trích gửi mẫu giám định cùng toàn bộ vỏ bao bì ban đầu.
+ Trả lại cho ông Quàng Văn D: 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy mang tên Quàng Văn V; 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, màu sơn xanh đen, loại SIRIUS, biển kiểm soát 27B1-392.37, số khung RLCUE1740GY010049, số máy E3T6E060551, xe đã cũ đã qua sử dụng.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện Mường Ảng và Chi Cục thi hành án dân sự huyện Mường Ảng lập ngày 20/02/2023).
3. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS và Điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH về Quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Miễn án phí HSST cho bị cáo Quàng Văn L.
4. Về quyền kháng cáo đối với bản án: Căn cứ Điều 331, Điều 333 BLTTHS:
- Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (Ngày 06/3/2023).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Điện Biên; - VKSND tỉnh Điện Biên; - Sở Tư pháp tỉnh Điện Biên; - VKSND h; - Công an h.; - Chi cục THADS h.; - Bị cáo; - Người bào chữa; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Lưu hồ sơ. | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (đã ký) Nguyễn Văn Phƣơng |