- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Thị Thu Ph - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Bùi Thị Thu Ph phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Xử phạt bị cáo Bùi Thị Thu Ph 15 (mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 (ba mươi) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 101 Bộ luật Hình sự; Điều 54 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 37/2023/HS-ST Ngày 17-5-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU - TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Ngô Thị Hòe
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Ngọc Phán - Hiệu trưởng trường THCS xã Hải Tây;
2. Ông Phạm Văn Lịch - Cán bộ Chi cục Thuế nghỉ hưu.
- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Hồng Thắm – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu tham gia phiên tòa: Ông Vũ Minh Hải - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 32/2023/TLST-HS ngày 18 tháng 4 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 37/2023/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 5 năm 2023 đối với bị cáo:
Bùi Thị Thu Ph, sinh ngày 04/3/2006; nơi sinh, nơi cư trú: Xóm 4, xã HA, huyện HH, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Học sinh; trình độ học vấn: Lớp 11/12 (hiện đang là học sinh lớp 11); dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Hồng Dung, sinh năm 1977 và bà Trần Thị V, sinh năm 1976; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 16-01-2023 cho đến nay.
* Đại diện hợp pháp của bị cáo: Bà Trần Thị V, sinh năm 1976. Địa chỉ: Xóm 4, xã HA, huyện HH, tỉnh Nam Định.
* Người bào chữa cho bị cáo: Bà Trần Thị Bình - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Nam Định.
*Bị hại: Anh Trần Văn H, sinh năm 1980 (đã chết).
Đại diện hợp pháp của bị hại: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1984. Địa chỉ: Xóm 1, xã HN, huyện HH, tỉnh Nam Định.
*Người làm chứng:
1. Cháu Trần Đức L, sinh ngày 07/01/2008.
* Đại diện hợp pháp của cháu Trần Đức L: Anh Trần Văn L1, sinh năm 1980.
2. Ông Phạm Văn H, sinh năm 1969.
(Tại phiên tòa: Có mặt bị cáo, bà V, bà Bình, chị H, cháu L, anh L1; vắng mặt ông H).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ 20 phút ngày 20/11/2022, Bùi Thị Thu Ph không có giấy phép lái xe theo quy định điều khiển xe mô tô biển kiểm soát (BKS) 55P1 - 0448, phía sau chở Trần Đức L đi trên Quốc lộ 21B theo hướng từ xã Hải Ninh đi xã Hải Phong, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định. Khi đến khu vực cầu Ba Bà thuộc xóm 5, xã Hải Phong, huyện Hải Hậu, Ph điều khiển xe đi lấn sang phần đường dành cho phương tiện đi ngược chiều nên đã xảy ra va chạm với xe mô tô BKS 18P9 - 1555 do anh Trần Văn H điều khiển đi ngược chiều. Hậu quả: Anh H bị thương và tử vong trên đường đi cấp cứu, hai xe mô tô bị hư hỏng.
Tại bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 1678/KL-KTHS ngày 01/12/2022, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định kết luận: Nguyên nhân tử vong của anh Trần Văn H do chấn thương sọ não, vỡ xương hộp sọ, chảy máu nội sọ.
Bản kết luận giám định số 40/KL-KTHS ngày 20/02/2023, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định kết luận: Vị trí điểm va chạm đầu tiên giữa xe mô tô BKS 55P1 - 0448 và xe mô tô BKS 18P9 - 1155 nằm trên phần làn đường phía bên phải vạch phân chia làn đường theo chiều chuyển động của xe mô tô BKS 18P9 - 1155.
Bản kết luận định giá tài sản số 15/KL-HĐĐG ngày 24/02/2023, Hội đồng định giá huyện Hải Hậu kết luận: Giá trị thiệt hại của xe mô tô BKS 55P1 - 0448 tại thời điểm định giá là 2.850.000 đồng; giá trị thiệt hại của xe mô tô BKS 18P - 1155 tại thời điểm định giá là 820.000 đồng.
Quá trình điều tra, Bùi Thị Thu Ph đã cùng gia đình tự nguyện bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại số tiền 60.000.000 đồng, đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu, đề nghị gì thêm về phần dân sự và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Cáo trạng số 34/CT-VKSHH ngày 17-4-2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu truy tố bị cáo Bùi Thị Thu Ph về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa: Bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi vi phạm như bản cáo trạng đã nêu. Đại diện hợp pháp cho bị cáo nhất trí với ý kiến trình bày của bị cáo. Đại diện hợp pháp cho bị hại không yêu cầu bồi thường thêm về dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo được cải tạo tại địa phương để bị cáo có điều kiện được tiếp tục đi học.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu thực hành quyền công tố tại phiên toà giữ quan điểm truy tố bị cáo Bùi Thị Thu Ph về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 91, 101; Điều 54; Điều 65 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Bùi Thị Thu Ph từ 15 tháng đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 30 tháng đến 36 tháng kể từ ngày tuyên án. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân (UBND) xã Hải An nơi bị cáo cư trú để giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Tranh luận tại phiên tòa: Kiểm sát viên, bị cáo, đại diện hợp pháp cho bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, đại diện hợp pháp cho bị hại không tranh luận.
Người bào chữa cho bị cáo trình bày luận cứ bảo vệ: Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi. Xét bị cáo là người chưa thành niên, phạm tội lần đầu; quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Sau khi phạm tội, bị cáo cùng gia đình tự nguyện bồi thường cho bị hại và được đại diện hợp pháp bị hại xin giảm nhẹ hình phạt. Bị cáo là người có tư cách, đạo đức tốt được nhà trường, thầy cô giáo, địa phương nơi cư trú xác nhận. Do đó, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xét bị cáo là người chưa thành niên, đang theo học bậc THPT; tội phạm xảy ra lỗi của bị cáo được xác định là lỗi vô ý; bản thân bị cáo và gia đình có nơi cư trú rõ ràng nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 91, 101; Điều 54 và Điều 65 cho bị cáo được hưởng án treo với mức thấp nhất mà Kiểm sát viên đã đề nghị, để bị cáo có cơ hội tu dưỡng, rèn luyện bản thân.
Nói lời sau cùng: Bị cáo ăn năn hối cải, đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được cải tạo tại địa phương với mức hình phạt thấp nhất mà đại diện Viện kiểm sát đã đề nghị.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Hải Hậu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, đại diện hợp pháp của bị cáo; người đại diện hợp pháp cho bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai nhận của bị cáo Bùi Thị Thu Ph tại phiên toà được chứng minh bằng lời khai của người đại diện hợp pháp của bị hại, người làm chứng; biên bản khám nghiệm tử thi, biên bản khám nghiệm hiện trường, kết luận giám định, kết luận định giá tài sản cùng các tài liệu khác được L1 trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 13 giờ 20 phút ngày 20/11/2022, Bùi Thị Thu Ph không có giấy phép lái xe, điều khiển xe mô tô BKS 55P1 - 0448 dung tích xi lanh 113cm3, phía sau chở em họ là Trần Đức L đi trên trên Quốc lộ 21B theo hướng từ xã Hải Ninh đi xã Hải Phong, huyện Hải Hậu. Khi đến khu vực cầu Ba Bà thuộc xóm 5, xã Hải Phong, huyện Hải Hậu, Ph đi lấn sang phần đường dành cho phương tiện đi ngược chiều vi phạm khoản 1 Điều 9 Luật Giao thông đường bộ sửa đổi bổ sung năm 2009, dẫn đến va chạm với xe mô tô BKS 18P9 - 1555 do anh Trần Văn H điều khiển đi ngược chiều. Hậu quả: Anh H bị chấn thương sọ não, vỡ xương hộp sọ, chảy máu nội sọ, tử vong trên đường đi cấp cứu.
Hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát truy tố bị cáo ra trước Toà án nhân dân huyện Hải Hậu để xét xử với tội danh và điều luật đã viện dẫn là có căn cứ.
Xét tính chất, mức độ nguy hiểm đối với hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện thì thấy: Mặc dù không cố ý nhưng bị cáo đã điều khiển phương tiện đi lấn sang phần đường dành cho phương tiện đi ngược chiều, vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật giao thông đường bộ, gây hậu quả nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của bị cáo không những xâm phạm đến sự an toàn của các phương tiện tham gia giao thông đường bộ mà còn xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của người khác, gây mất trật tự trị an xã hội. Do đó, cần phải xử lý nghiêm nhằm trừng trị, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thì thấy:
Trong vụ án này, bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Bị cáo có nhân thân tốt; chưa có tiền án, tiền sự. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo là người chưa thành niên; sự việc xảy ra, bị cáo cùng gia đình đã đến thăm hỏi, tự nguyện bồi thường cho đại diện hợp pháp của bị hại, được đại diện hợp pháp của bị hại chấp nhận tha thứ, xin giảm nhẹ hình phạt. Vì vậy, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, trong đó có 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bản thân bị cáo chưa thành niên, có nơi cư trú rõ ràng, được trường học nơi theo học cũng như chính quyền địa phương xác nhận có phẩm chất đạo đức tốt nên cần áp dụng khoản 3 Điều 54 Bộ luật Hình sự, cho bị cáo được hưởng mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt. Áp dụng Điều 91, khoản 2 Điều 101 Bộ luật Hình sự để quyết định hình phạt và áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự cho bị cáo được cải tạo dưới sự giám sát, giáo dục của gia đình và địa phương như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật đối với người chưa thành niên phạm tội.
Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 Điều 260 Bộ luật Hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 đến 05 năm”. Xét bị cáo là học sinh nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.
Về trách nhiệm dân sự: Sau khi tai nạn xảy ra, bị cáo cùng gia đình tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 60.000.000đ. Đến nay, đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu về dân sự nên Hội đồng xét xử không giải quyết.
Chiếc xe mô tô BKS 18P - 1155 là tài sản hợp pháp của anh Trần Văn H, đại điện hợp pháp của anh H không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại do xe bị hư hỏng. Chiếc xe mô tô BKS 55P1 - 0448 là tài sản hợp pháp của chị Trần Thị V là mẹ bị cáo, ngày 20-11-2022, bị cáo tự ý lấy xe sử dụng gây tai nạn. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã trả lại xe cho chị Vi và đại điện hợp pháp của anh H quản lý, sử dụng là phù hợp pháp luật.
Án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Quyền kháng cáo: Bị cáo, đại diện hợp pháp cho bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, đại diện hợp pháp cho bị hại được quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 331, 335 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 65; Điều 91; Điều 101 Bộ luật Hình sự:
Tuyên bố bị cáo Bùi Thị Thu Ph phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Xử phạt bị cáo Bùi Thị Thu Ph 15 (mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 (ba mươi) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho Uỷ ban nhân dân xã Hải An, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án Hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự: Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” đối với bị cáo.
3. Án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án: Buộc bị cáo Bùi Thị Thu Ph phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.
3. Quyền kháng cáo: Bị cáo Bùi Thị Thu Ph, đại diện hợp pháp cho bị cáo, đại diện hợp pháp cho bị hại được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hạn thi hành án thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Nam Định; - VKSND huyện + tỉnh Nam Định; - Công an huyện Hải Hậu; - THA hình sự; - Chi cục THA dân sự; - UBND xã Hải An; - Bị cáo; - Người đại diện hợp pháp của bị hại; - L1 hồ sơ vụ án; - L1 Vp. | THẨM PHÁN- CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Ngô Thị Hòe |