- Tranh chấp gì? án hình sự — "Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn V phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DUY XUYÊN TỈNH QUẢNG NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 37/2023/HS-ST. Ngày 06/7/2023. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DUY XUYÊN, TỈNH QUẢNG NAM
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Minh Phượng.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Trung Thiêng.
2. Bà Hứa Thị Hoàng.
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Khánh Vy – Thư ký Toà án nhân dân huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam tham gia phiên tòa: Ông Hà Đức Bình - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 7 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 23/TLST-HS ngày 26 tháng 4 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2023/QĐXXST-HS ngày 19/6/2023 đối với bị cáo:
Bị cáo Nguyễn Văn V, sinh năm 1991; Nơi đăng ký NKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn Tr, xã Cẩm Kim, thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam; Nghề nghiệp: Thợ cắt tóc; Trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; giới tính: nam; con ông Nguyễn Văn V1, sinh năm 1955 và bà Đỗ Thị L, sinh năm 1959; bị cáo đã có vợ con; con lớn nhất sinh năm 2016, con nhỏ nhất sinh năm 2021; Tiền án, tiền sự: không. Nhân thân: Ngày 19/7/2019, Công an xã Cẩm Kim xử phạt hành chính vè hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 19/12/2022; có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Đỗ Văn C, sinh năm 1995;
Địa chỉ: Thôn Th, xã Duy Nghĩa, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam.
2. Nguyễn Văn V2, sinh năm 1993;
Địa chỉ: Thôn Tr, xã Duy Nghĩa, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam.
3. Phạm Đức H, sinh năm 1995;
Địa chỉ: Thôn Tr, xã Duy Nghĩa, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam.
4. Ông Nguyễn Văn V1, sinh năm 1955;
Địa chỉ: Thôn Trung Hà, xã Cẩm Kim, thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam.
5. Chị Trần Thị Hiếu, sinh năm 1995;
Địa chỉ: Khối phố Phước Mỹ, thị trấn Nam Phước, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam.
(Ông V1 có mặt, còn lại đều vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 20 giờ 00 ngày 18/12/2022, nhận được tin báo của quần chúng nhân dân về việc có người đang sử dụng trái phép chất ma túy tại ngôi nhà hoang thuộc thôn Hà Mỹ, xã Duy V2, Duy Xuyên, tổ công tác Công an huyện Duy Xuyên phối hợp cùng Công an xã Duy V2 tiến hành kiểm tra tại ngôi nhà hoang phát hiện Đỗ Văn C đang sử dụng trái phép chất ma túy. Đỗ Văn C khai nhận: vào trưa ngày 18/12/2022, do bản thân muốn sử dụng ma túy nên C đã liên lạc với Nguyễn Văn V mua 01 gói ma túy với số tiền 300.000 và được V hẹn đến trước nhà thờ thuộc thôn Hà Nam, Duy Vinh, Duy Xuyên để bán. Khi đến điểm hẹn, V bán ma túy và nhận tiền từ C. Sau khi mua được ma túy, C đi vào nhà hoang tại Duy V2 để sử dụng. Khi sử dụng vừa hết số ma túy thì bị Công an kiểm tra, phát hiện. Ngoài ra, Đỗ Văn C còn khai nhận: vào chiều ngày 9/12/2022, C cùng Hiếu đi chơi về đến Duy V2, C liên lạc mua của V 01 gói ma túy đá với số tiền 300.000 đồng.
Trên cơ sở đó, vào lúc 09 giờ 45 phút ngày 19/12/2022, Cơ quan Công an tiến hành giữ người trong trường họp khẩn cấp đối với Nguyễn Văn V. Tại thời điểm thi hành lệnh, Nguyễn Văn V đang cầm 01 gói ni lông nhựa dẻo bên trong chứa nhiều chất tinh thể màu trắng nghi là ma túy tổng hợp, V khai chuẩn bị đi bán ma túy. Tiếp tục kiểm tra phát hiện tại túi quần của V có 01 hộp kim loại màu xanh đen, bên trong chứa 08 gói ni lông, trong mỗi gói ni lông chứa nhiều tinh thể màu trắng nghi là ma túy tổng hợp. Nguyễn Văn V khai nhận: Toàn bộ gói tinh thể mà Công an thu giữ là ma túy đá V mua của một thanh niên tên Hà (không rõ lai lịch) ở Điện Bàn mỗi lần với số tiền từ 1.300.000 đồng đến 2.400.000 đồng về phân ra bán kiếm lời và sử dụng. Do bản thân nghiện ma túy đá nên từ khoảng giữa năm 2022 đến khi bị bắt, V mua ma túy đá về rồi phân ra nhiều gói nhỏ để bán và sử dụng. Nguyễn Văn Vận đã bán ma túy cho nhũng người, cụ thể như sau:
1. Bán cho Đỗ Văn C 02 lần, mỗi lần với số tiền 300.000 đồng, C sử dụng số điện thoại 0904496476 liên lạc với V số điện thoại 0766628781 để giao dịch. Trong đó, lần thứ nhất, tại quán cắt tóc của V (thuộc thôn Hà Nam, Duy Vinh, Duy Xuyên) vào chiều ngày 09/12/2022. Lần thứ hai, vào trưa ngày 18/12/2022 tại trước chùa thuộc thôn Hà Nam, xã Duy V2, Duy Xuyên.
2. Bán cho Nguyễn Văn Minh 03 lần, mỗi lần với số tiền 300.000 đồng. Minh sử dụng điện thoại chứa 02 sim, trong đó có 01 sim 0986491580 và 01 sim số 0795499534 liên lạc với V qua số điện thoại 0766628771. Trong đó, lần thứ nhất vào tối 10/12/2022 tại trước trường THCS Nguyễn Bỉnh Khiêm, Duy Vinh; lần thứ hai vào ngày 12/12/2022 tại gần nhà V ở Cẩm Kim, Hội An; lần thứ 3 gần quán cắt tóc của V ở Duy Vinh và lần thứ tư chuẩn bị đi giao ma túy cho Minh thì bị bắt quả tang.
3. Bán cho Phạm Đức H 02 lần, mỗi lần với số tiền 300.000 đồng, C sử dụng sim rác liên lạc với V số điện thoại 0766628781 để mua ma túy. Lần thứ nhất, tại bờ kè thôn Hà Nam vào khoảng tháng 10/2022; lần thứ 2 vào ngày 16/12/2022 trước trường Lý Thường Kiệt, Cẩm Kim.
Quá trình khám xét đã thu giữ nhiều dụng cụ V dùng để phân chia ma túy bán cho con nghiện và dụng cụ để V sử dụng ma túy như: 01 kéo bằng kim loại; 01 kẹp banh y tế bằng kim loại; 01 dao rạch giấy; 01 đoạn nhựa dẻo trong suốt được cắt nhọn một đầu; 01 chai thủy tinh co nắp màu trắng đục hai lổ tròn cắm 01 nỏ thủy tinh, 03 đoạn uống hút nhựa; 01 bình gas hiệu Bluesky.
Tại Bản Kết luận giám định số 1841KL-KTHS ngày 23/12/2022 của Phân viện Khoa học kỹ thuật hình sự tại TP.Đà Nẵng kết luận: chất rắn màu trắng dạng tinh thể bên trong 09 gói ni lông trong suốt là Methamphetamin, có khối lượng mẫu là 0,85 gam.
Tại bản cáo trạng số 28/CT-VKSDX ngày 25/4/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn V về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi bổ sung năm 2017).
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Nguyễn Văn V về tội danh và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; các điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã được sưả đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Nguyễn Văn V 07 (bảy) năm đến 08 (tám) năm tù.
- Đề nghị HĐXX áp dụng điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS:
Tuyên tịch thu tiêu hủy: 01 bì thư niêm phong của Viện khoa học hình sự Bộ Công an số 1841/KL-KTHS bên trong chứa 0,78 gam Methamphetamine và toàn bộ vỏ bao gói được hoàn lại sau giám định; 01 hộp kim loại màu xanh đen; 01 kéo bằng kim loại; 01 kẹp banh y tế bằng kim loại; 01 dao rạch giấy; 01 đoạn nhựa dẻo trong suốt được cắt nhọn một đầu; 01 chai thủy tinh co nắp màu trắng đục hai lổ tròn cắm 01 nỏ thủy tinh, 03 đoạn uống hút nhựa; 01 bình gas hiệu Bluesky; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm: 01 chai nhựa có nắp đục hai lỗ tròn có gắn 01 nỏ thủy tinh và 01 ống hút, 01 bật lửa, 01 vỏ gói nilong cắt hở một đầu.
Tuyên tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Goly gắn sim thuê bao 0766628771;
Số tiền bán ma túy 2.100.000 đồng của bị cáo Nguyễn Văn V tuyên tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước.
Bị cáo Nguyễn Văn V thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội theo như Cáo trạng đã truy tố và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Phân tích những chứng cứ xác định có tội:
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn V khai nhận: Vào khoảng tháng 12 năm 2022, Nguyễn Văn V đã có hành vi 07 lần bán trái phép chất ma túy loại Methamphetamine cho Đỗ Văn C (02 lần, mỗi lần 300.000 đồng), Nguyễn Văn Minh (03 lần, mỗi lần 300.000 đồng) và Phạm Đức H (02 lần, mỗi lần 300.000 đồng) với tổng số tiền 2.100.000đ (hai triệu một trăm nghìn đồng).
Số lượng ma túy mà bị cáo V đã bán cho C, Minh, H không thu giữ được, không xác định trọng lượng cụ thể nhưng lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đồng thời, cơ quan công an đã bắt qủa tang bị cáo V tàng trữ trái phép 09 gói ma túy nhằm mục đích bán cho các con nghiện, qua giám định khối lượng 0,85 gam ma túy Methamphetamin và nhiều dụng cụ sử dụng ma túy.
Hội đồng xét xử có căn cứ kết luận bị cáo Nguyễn Văn V đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam đã truy tố.
Đối với những người đã mua ma túy của V, Cơ quan cảnh sát điều tra đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là có căn cứ.
Đánh giá tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:
Tệ nạn ma túy hiện nay đang là hiểm họa của toàn xã hội, đây là nguyên nhân chủ yếu làm phát sinh tội phạm và các tệ nạn xã hội khác. Tuy nhiên, lười lao động, muốn có tiền sử dụng ma túy nên mặc dù nhận thức được chất ma túy do Nhà nước độc quyền quản lý, cấm mua bán nhưng các bị cáo vẫn bất chấp pháp luật, thực hiện hành vi mua bán trái phép ma túy. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, đe dọa nghiêm trọng đến an toàn, trật tự công cộng, gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe và sự phát triển lành mạnh của con người. Do đó, cần pH có mức án nghiêm khắc đối với bị cáo mới đảm bảo tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ rõ sự ăn năn hối cải về hành vi của mình do đó cần áp dụng các điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo V đã tự nguyện khai báo về những lần bán ma túy trước đây của mình nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm r khoản 1 Điều 51 BLHS. Bị cáo V đã hoàn hành nghĩa vụ quân sự, gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định ở khoản 2 Điều 51 BLHS. Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 bộ luật hình sự nên cần áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự quyết định cho bị cáo được hưởng một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà Bộ luật Hình sự quy định. Tuy nhiên bị cáo có nhân thân xấu nên cần pH buộc bị cáo chấp hành hình phạt tù một thời gian để bị cáo có điều kiện cải tạo, rèn luyện trở thành người công dân tốt.
Về xử lý vật chứng:
Đối với các vật chứng trực tiếp liên quan đến tội phạm cần tiêu tịch thu tiêu hủy: 01 bì thư niêm phong của Viện khoa học hình sự Bộ Công an số 1841/KL-KTHS bên trong chứa 0,78 gam Methamphetamine và toàn bộ vỏ bao gói được hoàn lại sau giám định; 01 hộp kim loại màu xanh đen; 01 kéo bằng kim loại; 01 kẹp banh y tế bằng kim loại; 01 dao rạch giấy; 01 đoạn nhựa dẻo trong suốt được cắt nhọn một đầu; 01 chai thủy tinh co nắp màu trắng đục hai lổ tròn cắm 01 nỏ thủy tinh, 03 đoạn uống hút nhựa; 01 bình gas hiệu Bluesky; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm: 01 chai nhựa có nắp đục hai lỗ tròn có gắn 01 nỏ thủy tinh và 01 ống hút, 01 bật lửa, 01 vỏ gói nilong cắt hở một đầu.
Tuyên tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Goly gắn sim thuê bao 0766628771;
Số tiền bán ma túy 2.100.000 đồng của bị cáo Nguyễn Văn V tuyên tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước.
Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn V pH chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Duy Xuyên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Duy Xuyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn V phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã dược sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Nguyễn Văn V 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày tạm giữ ngày 19 tháng 12 năm 2022.
Về xử lý vật chứng:
Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 BLTTHS:
Tuyên tịch thu sung công quỹ: 01 (một) điện thoại di động hiệu Goly gắn sim thuê bao 0766628771;
Tịch thu tiêu hủy: 01 bì thư niêm phong của Viện khoa học hình sự Bộ Công an số 1841/KL-KTHS bên trong chứa 0,78 gam Methamphetamine và toàn bộ vỏ bao gói được hoàn lại sau giám định; 01 hộp kim loại màu xanh đen; 01 kéo bằng kim loại; 01 kẹp banh y tế bằng kim loại; 01 dao rạch giấy; 01 đoạn nhựa dẻo trong suốt được cắt nhọn một đầu; 01 chai thủy tinh có nắp màu trắng đục hai lổ tròn cắm 01 nỏ thủy tinh, 03 đoạn uống hút nhựa; 01 bình gas hiệu Bluesky; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm: 01 chai nhựa có nắp đục hai lỗ tròn có gắn 01 nỏ thủy tinh và 01 ống hút, 01 bật lửa, 01 vỏ gói nilong cắt hở một đầu.
(Vật chứng hiện đang được lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Duy Xuyên).
Buộc bị cáo Nguyễn Văn V pH nộp số tiền 2.100.000 đồng (hai triệu một trăm nghìn đồng) do phạm tội mà có để tịch thu sung công quỹ nhà nước.
Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn V pH chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (06/7/2023).
Những người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc niêm yết bản án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người pH thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hạn thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Nam - VKSND huyện Duy Xuyên - Công an huyện Duy Xuyên - Chi cục THA DS huyện Duy Xuyên. - Bị cáo và người TGTT; - Lưu HS, án văn, T.H.A | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Võ Thị Minh Phượng |