- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số đ…"
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG PHÚ TỈNH BÌNH PHƯỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 37/2023/HS-ST Ngày: 15- 5 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG PHÚ, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hằng
Các hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Đăng Thường
2. Bà Hoàng Thị Minh
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Huệ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú tham gia phiên tòa: Ông Ngô Thanh Hải - Kiểm sát viên
Ngày 15 tháng 5 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số 28/2023/TLST-HS ngày 13/4/2023 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử 27/2023/QĐXXST-HS ngày 04/5/2023 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn T, sinh năm 2000 tại Tiền Giang; Tên gọi khác: G; Nơi cư trú: Khu phố Thắng L, thị trấn Tân P, huyện Đồng P, tỉnh Bình Phước; Nghề nghiệp: Thợ hồ; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn T2, sinh năm 1965 và bà Lê Thị Phi Y, sinh năm 1965; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, Tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/11/2022 cho đến nay; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Anh Nguyễn Đức D, sinh năm 2004 (Vắng mặt không có lý do).
Địa chỉ: Tổ 9, khu phố Tân A, thị trấn Tân P, huyện Đồng P, tỉnh Bình Phước.
Chị Huỳnh Nguyễn Thùy T1, sinh năm 2005 (Vắng mặt không có lý do).
Địa chỉ: Khu phố Tân A, thị trấn Tân P, huyện Đồng P, tỉnh Bình Phước.
- Người làm chứng:
Anh Nguyễn Đức L, sinh năm 2003 (Vắng mặt không có lý do).
Địa chỉ: Khu phố Tân A, thị trấn Tân P, huyện Đồng P, tỉnh Bình Phước.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do muốn có ma túy sử dụng và bán lại cho người khác kiếm tiền tiêu xài cá nhân nên khoảng 17 giờ 00 phút ngày 01/11/2022, Nguyễn Văn T điều khiển xe gắn máy biển số 63AC – 050.03 đến gặp đối tượng tên T3 (không rõ nhân thân, lai lịch) tại khu phố Bàu K, thị trấn Tân P, huyện Đồng P, tỉnh Bình Phước hỏi mua 1.000.000 đồng ma túy đá. Sau khi mua được ma túy, T đem về nhà lấy một ít ra sử dụng rồi cất giấu gói ma túy trong túi quần. Khoảng 22 giờ 00 phút cùng ngày, Nguyễn Đức D nhắn tin cho T qua ứng dụng Messenger hỏi mua 100.000 đồng ma túy thì T đồng ý và bảo D đến gần nhà T. T lấy ra một ít ma túy cho vào gói nylon hàn kín bán cho D và nhận số tiền 100.000 đồng. Sau đó, T cất giấu gói ma túy vào túi áo khoác của Huỳnh Nguyễn Thùy T1 (người yêu T) rồi điều khiển xe gắn máy biển số 63AC – 050.03 chở T1 đi ăn khuya. Lúc này, D tiếp tục nhắn tin cho T hỏi mua 200.000 đồng ma túy vì gói ma túy D vừa mua đã bị đổ ly nước làm ướt không sử dụng được. T đồng ý bán ma túy cho D và chở T1 đến nhà D tại khu phố Tân A, thị trấn Tân P.
Vào lúc 00 giờ 40 phút ngày 02/11/2022, Công an huyện Đồng Phú phối hợp với Công an thị trấn Tân Phú tuần tra, phát hiện trong túi áo khoác bên trái của T1 có 01 gói nylon chứa tinh thể màu trắng. T khai nhận gói nylon này là ma túy đá của T, T cất giấu trong áo khoác của T1 và đang chuẩn bị bán cho D nên Cơ quan Công an đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với T.
Quá trinh điều tra, Nguyễn Văn T còn khai nhận đã bán ma túy chò Nguyễn Đức L 01 (một) lần, nội dung cụ thể như sau: Buổi chiều ngày 22/10/2022, Nguyễn Văn T nhờ bạn bè liên hệ với một người tên L1 (không rõ nhân thân lai lịch) hỏi mua 1.000.000 đồng ma túy đá thì L1 đồng ý bán và hẹn địa điểm tại khu vực dốc Tà B, xã Tiến H, thành phố Đồng X. Khi T điều khiển xe gắn máy biển số 63AC – 050.03 đến thì có một người đàn ông chờ sẵn, người đàn ông này cầm số tiền 1.000.000 đồng và đưa cho T 01 gói nylon chứa ma túy. Đến khoảng 11 giờ 00 phút ngày 23/10/2022, Nguyễn Đức L liên lạc với T qua ứng dụng Messenger hỏi mua 200.000 đồng ma túy thì T đồng ý. T lấy một ít ma túy cho vào gói nylon hàn kín rồi bán cho Nguyễn Đức L tại khu vực tổ 29, khu phố Thắng L, thị trấn Tân P, huyện Đồng P, tỉnh Bình Phước, số tiền 200.000 đồng thì T đã tiêu xài cá nhân hết.
Theo Kết luận giám định số 262/KL(MT)-KTHS ngày 09/11/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Phước, kết luận: Tinh thể màu trắng (ký hiệu M) có trong 01 gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng là 1,3253 gam.
Tại Bản cáo trạng số 31/CT-VKS ngày 13 tháng 4 năm 2023 Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T mức án từ 08 năm đến 09 năm tù.
Về xử lý vật chứng vụ án:
Đề nghị Tòa án tuyên tịch thu, hóa giá, sung ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động Iphone SE màu trắng; trả lại cho chị Huỳnh Nguyễn Thùy T1 01 điện thoại di động Oppo màu đen, tịch thu; tiêu hủy 01 áo khoác màu nâu hồng, phía sau in dòng chữ “OF EMINI BRINGS” và 1,1565g ma túy được niêm phong sau khi giám định được đựng trong 01 gói nylon kích thước (3x5) cm; truy thu số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) bị cáo có được từ việc bán ma túy.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, bị cáo không tranh luận, không kêu oan.
Lời nói sau cùng của bị cáo trước khi Hội đồng xét xử nghị án: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các T liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đồng Phú, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Đối với việc vắng mặt của người có quyền lợi, nghĩa vu ̣ liên quan; người làm chứng vắng mă ̣t tại phiên tòa: Mă ̣c dù đã được Tòa án đã tống đạt giấy triệu tập hợp lệ tuy nhiên anh D, chị T1 và anh L vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Xét thấy, sự vắng mă ̣t của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng không gây trở ngại đến việc xét xử vu ̣ án nên căn cứ Điều 292, Điều 293 của Bộ luật Tố tu ̣ng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiếp tục đưa vụ án ra xét xử.
Tại phiên toà, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú, lời khai của bị cáo phù hợp về thời gian, địa điểm và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có đầy đủ căn cứ khách quan để xác định:
Do muốn có tiền để tiêu xài nên Nguyễn Đức T đã mua ma túy của một số đối tượng không rõ nhân thân, mục đích để sử dụng và bán lại cho người khác để kiếm lời, T đã 3 lần thực hiện hành vi bán ma túy, cụ thể như sau:
Ngày 23/10/2022, T đã bán ma túy cho anh Nguyễn Đức L với số tiền 200.000đ, địa điểm bán là tại tổ 29, khu phố Thắng L, thị trấn Tân P, huyện Đồng P, tỉnh Bình Phước.
Ngày 01/11/2022, T bán ma túy cho Nguyễn Đức D với số tiền 100.000đ, địa điểm bán là tại tổ 33, khu phố Thắng L, thị trấn Tân P, huyện Đồng P, tỉnh Bình Phước.
Khoảng 00 giờ 40 ngày 02/11/2022 T tiếp tục bán ma túy cho Nguyễn Đức D, địa điểm bán là tại tổ 9, khu phố Tân A, thị trấn Tân P, huyện Đồng P, tỉnh Bình Phước. Khi T đang giao ma túy cho D thì bị Công an huyện Đồng Phú kết hợp với Công an thị trấn Tân Phú phát hiện và bắt quả tang.
Theo Kết luận giám định số 262/KL(MT)-KTHS ngày 09/11/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Phước, kết luận: Tinh thể màu trắng (ký hiệu M) có trong 01 gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng là 1,3253 gam.
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo hoàn toàn nhận thức được việc mua bán ma túy là hành vi vi phạm pháp luật nhưng vì mục đích lợi nhuận bị cáo vẫn thực hiện hành vi của mình với lỗi cố ý. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, ảnh hưởng xấu tới tình hình an ninh trật tự của địa phương, đồng thời là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác.
Vì vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “ Mua bán trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung tăng nă ̣ng “phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự 2015. Trên cơ sở đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Đối với đối tượng tên T3, L1 là người bán ma túy cho T: Hiện Cơ quan Công an chưa xác minh được nhân thân, lai lịch nên khi nào xác minh được sẽ xem xét, xử lý sau.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Nguyễn Văn T, Nguyễn Đức D và Nguyễn Đức L: Công an huyện Đồng Phú đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với chiếc xe gắn máy biển số 63AC-050.03 là phương tiện bị cáo T sử dụng vào mục đích phạm tội: Qua xác minh chiếc xe trên là của bà Nguyễn Thị H bị mất trộm tại địa bàn thành phố Đồng X. Cơ quan Công an huyện Đồng Phú đã thông báo đến Công an thành phố Đồng Xoài thụ lý và giải quyết theo thẩm quyền nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu nên khi lượng hình Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự
Về hình phạt:
- Về hình phạt chính: Bị cáo đang ở độ tuổi lao động, có đủ điều kiện lao động tạo thu nhập nuôi sống bản thân, gia đình nhưng vì lười lao động, bị cáo lại tham gia vào việc bán ma túy. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh hưở ng lớn đến công tác đấu tranh phòng, chống tệ nạn ma túy mà Nhà nước, xã hội đang thực hiện. Vì vậy, cần phải áp dụng mức hình phạt nghiêm, tương xứng với tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có thể cải tạo được bị cáo, đồng thời có tác dụng phòng ngừa tội phạm chung. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xét thấy cần giảm nhẹ một phần hình phạt để bị cáo có cơ hội sửa chữa bản thân và sớm hoà nhập cộng đồng.
- Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
Vật chứng vụ án:
Số ma túy sau khi đem đi giám định còn lại 1,1565 được đựng trong bì thư là chất cấm lưu hành nên cần tịch thu, tiêu hủy.
01 điện thoại di động Iphone SE màu trắng là tài sản của Nguyễn Đức D sử dụng vào mục đích liên lạc với bị cáo T để mua ma túy nên cần tuyên tịch thu, hóa giá, sung ngân sách Nhà nước;
01 điện thoại di động Oppo màu đen là tài sản hợp pháp của chị Huỳnh Nguyễn Thùy T1 nên cần trả lại cho chị T1;
01 áo khoác màu nâu hồng, phía sau in dòng chữ “OF EMINI BRINGS” là T sản hợp pháp của chị Huỳnh Nguyễn Thùy T1, do không còn giá trị sử dụng nên cần tuyên tịch thu, tiêu hủy.
Số tiền 300.000đ bị cáo có được từ việc bán ma túy bị cáo đã tiêu xài cá nhân hết, là khoản thu lợi bất chính có từ việc thực hiện hành vi phạm tội nên cần truy thu đối với bị cáo số tiền trên để sung ngân sách Nhà nước.
Xét lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà áp dụng hình phạt tù có thời hạn và xử lý vật chứng phù hợp với quy định pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí: Bị cáo phải chịu theo luật định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Về tội danh:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.
[2] Về điều luật áp dụng và mức hình phạt:
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 08 (Tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 02/11/2022 .
[3] Về vật chứng vụ án:
Áp dụng Điều 47, Điều 48 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:
Tịch thu, tiêu hủy số ma túy còn lại sau khi đem đi giám định 1,1565 được đựng trong bì thư niêm phong ghi số vụ 262/2022/GĐ-MT ngày 02/11/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Phước, có đóng dấu mộc đỏ niêm phong, có chữ ký của các thành phần tham gia.
Tịch thu, tiêu hủy 01 áo khoác màu nâu hồng, phía sau in dòng chữ “OF EMINI BRINGS”.
Tịch thu, hóa giá, sung ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động Iphone SE màu trắng.
Trả lại cho chị Huỳnh Nguyễn Thùy T1 01 điện thoại di động Oppo màu đen.
Truy thu của bị cáo Nguyễn Văn T số tiền 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) sung ngân sách Nhà nước.
[4] Về án phí:
Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc Hội:
Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
[5] Về quyền kháng cáo:
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.
Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Phước; - VKSND tỉnh Bình Phước; - VKSND huyện Đồng Phú; - Chi cục THADS huyện Đồng Phú; - Công an huyện Đồng Phú; - Phòng HS CA tỉnh Bình Phước; - Sở tư pháp tỉnh Bình Phước; - Bị cáo, người TGTT khác; - UBND xã nơi bị cáo cư trú; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thị Hằng |