vanban.org

Bản án 37/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên Tuyên án 23/02/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Sùng A C (tên gọi khác: Không) phạm tội: “Mua bán trái

phép chất ma túy”: Xử phạt bị cáo Sùng A C 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Sùng A C - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Sùng A C (tên gọi khác: Không) phạm tội: “Mua bán trái
  • Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐIỆN BIÊN ĐÔNG
TỈNH ĐIỆN BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 37/2023/HS-ST
Ngày 23-02-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN ĐÔNG, TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Giang.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Vừ A Câu.

2. Bà Đồng Thị Nhung.

- Thư ký phiên tòa: Bà Cà Thị Phương, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên Đông tham gia phiên tòa: Bà Cao Thị Ái, Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 02 năm 2023, tại hội trường xét xử Tòa án huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên, Tòa án nhân dân huyện Điện Biên Đông tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 38/2023/HSST ngày 12 tháng 01 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2023/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 02 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Sùng A C (tên gọi khác: Không), sinh ngày 17/3/1999 tại tỉnh Điện Biên; nơi cư trú: Bản Háng L, xã Keo L, huyện Điện Biên Đ, tỉnh Điện Biên; nghề nghiệp: Nông nghiệp; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Sùng A D, sinh năm 1972 và bà Hạng Thị S, sinh năm 1981; năm 2020 sống chung như vợ chồng với chị Lầu Thị D, sinh năm 2005 và có 01 con, sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Chưa bị xét xử, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính lần nào; bị tạm giữ từ ngày 15/9/2022 đến ngày 24/9/2022, tạm giam từ ngày 24/9/2022 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Chị Lầu Thị D, sinh ngày 12/5/2005.

Nơi cư trú: Bản Háng L, xã Keo L, huyện Điện Biên Đ, tỉnh Điện Biên, vắng mặt

có lý do.

- Những người đại diện hợp pháp C người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Ông Lầu Chứ M, sinh năm 1965 (bố đẻ chị Lầu Thị D), vắng mặt có lý do.

+ Bà Vàng Thị D, sinh năm 1966 (mẹ đẻ chị Lầu Thị D), vắng mặt có lý do.

Cùng trú tại: Bản Nà S B, xã Xa D, huyện Điện Biên Đ, tỉnh Điện Biên.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào đầu tháng 3 năm 2022 Sùng A C gọi điện thoại cho một người đàn ông dân tộc Mông tên là Sếnh C, là người ở bản Phì S, xã Phình G, huyện Điện Biên Đ, tỉnh Điện Biên hỏi mua ma túy. Qua trao đổi Sếnh C đồng ý bán cho C 01 gói Methamphetamine với giá 1.800.000đ, sau khi trao đổi với Sếnh C xong, C đưa tiền cho Ly A Ch, sinh năm 2003, trú tại Bản Háng L, xã Keo L, huyện Điện Biên Đ, tỉnh Điện Biên sang bản Phì Sua nhận gói ma túy C Sếnh C mang về cho C. Mua được ma túy, C mang lên nương cất giấu và lấy số ma túy trả công cho Ly Thị K, Sùng A H, Vàng Thị V là những người nghiện ma túy C thuê làm nương sắn, sau khi trả công xong còn thừa lại 08 viên C mang về nhà cất giấu trong tủ quần áo C C với mục đích trả công cho những người nghiện ma túy làm nương. Ngày 02/4/2022 Ly A Ch bị tổ công tác Công an huyện Điện Biên Đông bắt quả tang về hành vi mua bán trái phép chất ma túy. Tại Cơ quan điều tra Công an huyện Điện Biên Đông Ly A Ch Khai nhận: Nguồn gốc số ma túy C Chá bị Cơ quan Công an huyện Điện Biên Đông thu giữ là mua C Sùng A C. Ngày 04/4/2022 Cơ quan CSĐT Công an huyện Điện Biên Đông tiến hành khám xét nơi ở C Sùng A C và thu giữ trong tủ quần áo C C 08 viên Methamphetamine có tổng khối lượng 0,81 gam.

Vật chứng vụ án thu giữ gồm: 01 gói nilon màu xanh bên trong có chứa 08 viên nén màu hồng, trên mặt C các viên nén có chữ “WY” nghi là ma túy tổng hợp và 8.100.000đ gồm: 20 tờ mệnh giá 200.000đ và 04 tờ tiền mệnh giá 500.000đ và 21 tờ tiền mệnh giá 100.000đ tiền Ngân hàng Việt Nam đang lưu hành.

Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng hồi 10 giờ 30 phút ngày 05/4/2022 xác định: 08 viên nén màu hồng có tổng khối lượng 0,81 gam, trích gửi giám định 03 viên có khối lượng 0,29 gam.

Tại bản kết luận giám định số: 516/KL-KTHS ngày 13/4/2022 C Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: Mẫu viên nén màu hồng trích ra từ vật chứng thu giữ C Sùng A C là chất ma túy: Loại Methamphetamine, khối lượng 0,81 gam.

Tại bản kết luận giám định số: 508/KL-KTHS ngày 13/4/2022 C Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận:

- 04 tờ tiền mệnh giá 500.000đ có số mã hiệu cụ thể: BU 17553722; FV15554029; OX 11302453; ZT 15966666 là tiền thật.

- 20 tờ tiền mệnh giá 200.000đ có số mã hiệu cụ thể: EA 19386702; GM20587818; YO 19135145; WG 16325215; TL132781289; FJ 19740312; VO 18314555; OK 19461844; FD 19125777; LD14894849; IN 18501443; GN 20622436; AQ 11952072; QV 19412561; RW 13079495; LS 19499522; TM 11555411; DT 18162526; TF 19299818; TB19279765 là tiền thật.

- 21 tờ tiền mệnh giá 100.000đ có số mã hiệu cụ thể: DP 21260767; TM 18395041; RI 17921072; DA 19987699; LJ 11106216; ZX 18663045; IU 12637224; UK 17266455; HL 13105662; SA 11262322; OP 10894408; FR21512422; SN 13180311; US 17991698; IS 10193571; DP 21272357 là tiền thật.

Đối với số tiền 8.100.000đ tạm giữ khi khám xét khẩn cấp chỗ ở đối với Sùng A C. Trong quá trình điều tra, xác định số tiền trên không liên quan đến hành vi phạm tội C Sùng A C, nên Cơ quan điều tra Công an huyện Điện Biên Đông đã ra quyết định xử lý vật chứng số 29/QĐXLVC ngày 29/11/2022 trả lại số tiền 8.100.000đ trên cho chị Lầu Thị D, sinh ngày 12/5/2005, trú tại Bản Háng L, xã Keo L, huyện Điện Biên Đ, tỉnh Điện Biên là chủ sở hữu hợp pháp.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Chị Lầu Thị D có lời khai thể hiện: Đối với số tiền 2.100.000đ ở trong túi quần treo trong tủ quần áo C gia đình chị và số tiền 6.000.000đ đựng trong két sắt C gia đình mà Công an tạm giữ khi khám xét khẩn cấp chỗ ở đối với Sùng A C tất cả là tài sản C gia đình chị, đây là tiền gia đình chị bán sắn cho ông Ly A Ch, ở bản Háng L, xã Keo L, huyện Điện Biên Đ.

Bản cáo trạng số: 07/CT-VKS-ĐBĐ ngày 11 tháng 01 năm 2023 C Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên truy tố bị cáo Sùng A C về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Khoản 1 Điều 251 C Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội: Vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Sùng A C cả về tội danh và điều luật áp dụng. Đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử, áp dụng Khoản 1 Điều 251, Điểm s Khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38 C Bộ luật hình sự:

Xử phạt bị cáo Sùng A C từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điểm c Khoản 1 Điều 47 C Bộ luật hình sự; Điểm a Khoản 2 Điều 106 C Bộ luật tố tụng Hình sự:

Tịch thu, tiêu hủy 0,52 gam Methamphetamine còn lại sau giám định;

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; Miễn án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, không tranh luận gì

với đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH C TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]. Xét về sự vắng mặt C người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Lầu Thị D, những người đại diện hợp pháp C chị Dợ ông Lầu Chứ M, bà Vàng Thị D đã có đơn xin xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử xét thấy sự vắng mặt C người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, những người đại diện hợp pháp không ảnh hưởng đến việc xét xử bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có lời khai thể hiện rõ trong hồ sơ. Cho nên, Hội đồng xét xử quyết định xử vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, những người đại diện hợp pháp.

[2]. Xét về hành vi C bị cáo Sùng A C thấy rằng: Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng truy tố. Cụ thể:

Ngày 04/4/2022, Cơ quan CSĐT Công an huyện Điện Biên Đông đã tiến hành khám xét nơi ở C Sùng A C tại Bản Háng L, xã Keo L, huyện Điện Biên Đ, tỉnh Điện Biên, phát hiện, Sùng A C đã thực hiện hành vi cất giấu trái phép 08 viên Methamphetamine có khối lượng 0,81 gam, với mục đích để trả công cho người nghiện ma túy làm nương. Ngày 15/9/2022 Sùng A C đến Cơ quan CSĐT Công an huyện Điện Biên Đông đầu thú và thừa nhận hành vi vi phạm C bản thân.

Lời khai nhận tội C bị cáo tại phiên tòa hôm nay hoàn toàn phù hợp với tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Hành vi mua bán trái phép chất ma túy C bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý ma túy C Nhà nước, làm mất ổn định trật tự trị an, an toàn xã hội. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận hành vi C bị cáo Sùng A C đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Khoản 1 Điều 251 C Bộ luật hình sự.

Tại Khoản 1 Điều 251 C Bộ luật Hình sự quy định: “1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm”.

Như vậy, bản Cáo trạng truy tố đúng người, đúng tội, đề nghị C Viện Kiểm sát phù hợp, HĐXX chấp nhận.

[3]. Về tính chất, mức độ phạm tội: Hành vi C bị cáo là nguy hiểm cho xã hội và thuộc trường hợp nghiêm trọng, bị cáo phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp và là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, hành vi đó đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý C Nhà nước về các chất ma túy, làm ảnh hưởng đến trật tự trị an, an toàn xã hội trên địa bàn xã Keo Lôm nói riêng, huyện Điện Biên Đông nói chung. Vì vậy, hành vi C bị cáo phải bị xử lý nghiêm minh trước pháp luật.

[4]. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân C bị cáo: Bản thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội C mình, tự nguyện ra đầu thú. Nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điểm s Khoản 1, 2 Điều 51 C Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo Điều 52 C Bộ luật hình sự.

[5]. Về hành vi, quyết định tố tụng C Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định C Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định C Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định C Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[6]. Về hình phạt chính: Căn cứ vào tính chất mức độ nguy hiểm C hành vi, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân C bị cáo như đã phân tích ở trên. Hội đồng xét xử, xét thấy cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn để cải tạo, giáo dục để bị cáo trở thành công dân sống có ích cho gia đình và xã hội.

[7]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại Khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”, do đó, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai C bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy nghề nghiệp bị cáo làm nông nghiệp, tài sản gia đình không có gì có giá trị, hoàn cảnh gia đình khó khăn. Do vậy, không có điều kiện để thi hành án. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo như đề nghị C Viện kiểm sát là phù hợp.

[8]. Về vật chứng vụ án:

- Đối với 0,81 gam Methamphetamine, trích mẫu giám định 0,29 gam,

còn lại 0,52 gam là chất thuộc Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành, cần tịch thu và tiêu hủy toàn bộ theo quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điểm a Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

- Hội đồng xét xử chấp nhận việc Cơ quan CSĐT Công an huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên ra Quyết định xử lý vật chứng số 29/QĐXLVC ngày 29/11/2022 trả lại số tiền 8.100.000đ cho chị Lầu Thị D, sinh ngày 12/5/2005, trú tại Bản Háng L, xã Keo L, huyện Điện Biên Đ, tỉnh Điện Biên là chủ sở hữu hợp pháp.

[9]. Các vấn đề khác:

- Đối với người đàn ông dân tộc Mông tên Sếnh C trú tại bản Phì Xua, xã Phình Giàng, huyện Điện Biên Đông, bị cáo khai là người đã bán ma túy cho bị cáo vào đầu tháng 3/2022. Cơ quan CSĐT Công an huyện Điện Biên Đông đã tiến hành xác minh tại bản Phì Xua, xã Phình Giàng, huyện Điện Biên Đông có một người tên Thào A Công (tên gọi khác: Thào Sếnh C), sinh năm 1979. Cơ quan điều tra đã triệu tập để lấy lời khai, tại Cơ quan điều tra Thào A Công khai nhận không quen biết với bị cáo Sùng A C, Thào A Công không được mua bán ma túy với C và Chá vào đầu tháng 3/2022. Cơ quan đã triệu tập nhiều lần để tiến hành đối chất nhưng tại thời điểm hiện tại Thào A Công không có mặt tại nơi cư trú (có xác nhận C Công an xã), do đó chưa tiến hành đối chất được. Vì vậy, Cơ quan CSĐT chưa đủ tài liệu chứng minh Thào A Công liên quan đến hành vi phạm tội, nên chưa đề cập xừ lý trong vụ án này. HĐXX không xem xét.

- Đối với Ly A Ch, trú tại bản Háng Lia, xã Keo Lôm, huyện Điện Biên Đông, người mà Sùng A C khai đưa 1.800.000đ nhờ đến gặp Sếnh C để nhận toàn bộ gói ma túy tổng hợp vào đầu tháng 3/2022. Cơ quan CSĐT Công an huyện Điện Biên Đông đã tiến hành lấy lời khai, Ly A Ch chỉ khai nhận được C nhờ đến khu vực bản Phì Xua, xã Phình Giàng, huyện Điện Biên Đông để lấy 01 gói thuốc Súng được gói trong túi bóng vỏ mì tôm, Chá không mở ra xem nên không biết trong có gì. Cơ quan CSĐT đã tiến hành đối chất giữa Ly A Ch và Sùng A C, nhưng Chá và C giữ nguyên lời khai. Do đó, Cơ quan CSĐT Công an huyện Điện Biên Đông không có căn cứ để chứng minh hành vi phạm tội C Ly A Ch. HĐXX, không xem xét. Đối với hành vi mua bán trái phép chất ma túy ngày 02/4/2022 C Ly A Ch bị Công an huyện Điện Biên Đông bắt quả tang, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên truy tố về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” và bị Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên xét xử 15 năm 06 tháng tù giam, hiện Ly A Ch đang đi chấp hành án.

- Đối với Ly Thị K, sinh năm 1980, trú tại bản Háng Lia, xã Keo Lôm, huyện Điện Biên Đông theo lời khai C Sùng A C, là người mà Sùng A C đã dùng ma túy để thuê làm nương sắn. Cơ quan CSĐT Công an huyện Điện Biên Đông đã nhiều lần tiến hành triệu tập để điều tra làm rõ nhưng tại thời điểm triệu tập Ly Thị K không có mặt tại nơi cư trú. Do đó, chưa có đủ tài liệu chứng cứ, chứng minh Ly Thị K liên quan đến hành vi phạm tội, nên không đề cập xử lý trong vụ án này. HĐXX không xem xét.

- Đối với Sùng A H, theo lời khai C Sùng A C là người ở bản Háng Lia, xã Keo Lôm, huyện Điện Biên Đông, Sùng A C đã dùng ma túy để thuê làm nương sắn. Cơ quan CSĐT Công an huyện Điện Biên Đông đã tiến hành xác minh tại bản Háng Lia, xã Keo Lôm, huyện Điện Biên Đông không có ai tên Sùng A H. Vì vậy, không đề cập xử lý trong vụ án này. HĐXX không xem xét.

- Đối với Vàng Thị V, theo lời khai C bị cáo là người ở bản Háng Lia, xã Keo Lôm, huyện Điện Biên Đông bị cáo đã dùng ma túy để thuê làm nương sắn. Cơ quan CSĐT Công an huyện Điện Biên Đông đã tiến hành xác minh tại bản Háng Lia, xã Keo Lôm, huyện Điện Biên Đông không có ai tên Vàng Thị V, vì vậy, không đề cập xử lý trong vụ án này. HĐXX không xem xét.

- Đối với nội dung Ly A Ch khai mua 03 túi hồng phiến từ Sùng A C vào ngày 02/4/2022. Cơ quan CSĐT Công an huyện Điện Biên Đông đã lấy lời khai nhưng Sùng A C không thừa nhận nội dung trên, tiến hành đối chất giữa Ly A Ch và Sùng A C cũng không chứng minh được nội dung trên. Do vậy, Cơ quan CSĐT Công an huyện Điện Biên Đông không đủ căn cứ xử lý hành vi C Sùng A C, nên không đề cập xử lý. HĐXX, không xem xét.

[10]. Về án phí: Tại phiên tòa bị cáo xin miễn án phí hình sự sơ thẩm vì là người dân tộc thiểu số sinh sống tại địa bàn kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn. Cho nên, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm đ Khoản 1 Điều 12, Khoản 6 Điều 15 Nghị Quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 C Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ Khoản 1 Điều 251; Điểm s Khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 C Bộ luật

hình sự;

Tuyên bố: Bị cáo Sùng A C (tên gọi khác: Không) phạm tội: “Mua bán trái

phép chất ma túy”:

Xử phạt bị cáo Sùng A C 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm

giữ (15/9/2022).

2. Về vật chứng vụ án: Căn cứ Điểm c Khoản 1 Điều 47 C Bộ luật hình sự;

Điểm a Khoản 2 Điều 106 C Bộ luật tố tụng hình sự;

Tịch thu, tiêu hủy 0,52 gam Methamphetamine còn lại sau giám định;

Vật chứng đã được niêm phong và bàn giao sang Chi cục Thi hành án

dân sự huyện Điện Biên Đông theo biên bản giao nhận vật chứng vào hồi 15 giờ 30 phút ngày 11/01/2023 giữa cơ quan Công an huyện Điện Biên Đông và Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Điện Biên Đông.

3. Về án phí: Căn cứ Điều 135, 136 C Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm đ Khoản 1 Điều 12, Khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 C Ủy ban thường vụ Quốc hội 14;

Miễn án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo Sùng A C.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào các Điều 331, 333 C Bộ luật Tố tụng

hình sự;

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 23/02/2023). Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; Những người đại diện hợp pháp C người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền và nghĩa vụ C mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết./.

Cỡ chữ