- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn giữa chị TH và anh T"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Cấn Thị Th và anh Phan Lạc T.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH THẤT, TP. HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 37/2023/HNGĐ-ST Ngày: 24/3/2023 V/v: tranh chấp ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH THẤT, THÀNH PHỐ HÀ NỘI.
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Ngọc Sơn.
- Các Hội thẩm nhân dân:
+ Bà Nguyễn Thị Mai.
+ Ông Nguyễn Văn Chiến.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương Quỳnh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thạch Thất, Thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Thất, Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Lưu Mạnh Hùng- Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thạch Thất xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 185/2022/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 12 năm 2022 về việc tranh chấp ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 06/3/2023, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Cấn Thị Th, sinh năm 1981. Có mặt.
Địa chỉ: Thôn S, xã H, huyện Thạch Thất, Thành phố Hà Nội.
Bị đơn: Anh Phan Lạc T, sinh năm 1982. Có mặt.
Địa chỉ: Thôn S, xã H, huyện Thạch Thất, Thành phố Hà Nội.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Căn cứ vào đơn khởi kiện, các văn bản tiếp theo và tại phiên tòa, nguyên đơn là chị Cấn Thị Th trình bày: Ngày 04/10/2005 chị và anh Phan Lạc T đăng ký kết hôn trên cơ sở tự nguyện tại UBND xã H. Anh chị chung sống hạnh phúc đến năm 2015 bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, do anh T thường xuyên uống rượu về rồi có hành động chửi bới và đánh đập chị. Đến năm 2020, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng căng thẳng hơn, anh T lại tiếp tục đánh chị và có hành động dí dao vào cổ đe dọa chị. Vợ chồng chính thức ly thân từ ngày 01/5/2022 vì bố mẹ anh T đuổi chị ra khỏi nhà. Nay chị nhận thấy tình cảm vợ chồng đã hết, mâu thuẫn đã kéo dài trầm trọng nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh T.
Về con chung: Chị và anh T có hai con chung là cháu Phan Lạc T1, sinh ngày 08/7/2006 và Phan Lạc Gia L, sinh ngày 30/5/2011. Chị có nguyện vọng nuôi cháu L còn giao cho anh T nuôi cháu T1. Chị không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung. Trường hợp các con đều muốn được ở với bố thì chị cũng đồng ý theo nguyện vọng của các con.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại văn bản ngày 12/12/2022, các văn bản tiếp theo, bị đơn là anh Phan Lạc T trình bày: Anh công nhận về điều kiện kết hôn và con chung như chị Th trình bày là đúng.
Sau khi kết hôn, anh chị chung sống hạnh phúc không có mâu thuẫn gì lớn. Từ đầu năm 2022 chị Th có quan hệ ngoại tình với người đàn ông khác, gia đình anh khuyên bảo không được nên ngày 01/5/2022 bố mẹ anh đã đuổi chị Th ra khỏi nhà anh. Từ khi vợ chồng ly thân đến nay thì chị Th sống chung với người đàn ông này ở dưới thành phố H.
Nay chị Th xin ly hôn, anh xác nhận tình cảm vợ chồng không còn, nhưng nghĩ cho tương lai của các con, vì các con anh sắp trưởng thành rồi, nên anh không đồng ý ly hôn.
Về con chung: Anh chị có hai con chung như chị Th trình bày là đúng. Nếu Tòa án giải quyết cho vợ chồng ly hôn thì anh xin được nuôi cả hai con theo nguyện vọng của các con và không yêu cầu chị Th cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ý kiến của Kiểm sát viên:
Về trình tự thủ tục tố tụng thì Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của pháp luật. Các đương sự đã được đảm bảo quyền, nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.
Quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị áp dụng các điều 51, 56, 57, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình, để xử:
Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Cấn Thị Th và anh Phan Lạc T.
Về con chung: Giao cả hai con chung cho anh Phan Lạc T nuôi dưỡng.
Chị Th có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở nhưng không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung của người trực tiếp nuôi con.
Tạm hoãn cấp dưỡng nuôi con chung cho chị Th đến khi có quyết định thay đổi khác.
Về tài sản, công nợ: Do chị Th và anh T không yêu cầu nên Tòa án không phải giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về tố tụng: Anh Phan Lạc T có đăng ký thường trú và hiện đang sinh sống tại xã H, huyện Thạch Thất, Hà Nội nên chị Cấn Thị Th khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Thạch Thất giải quyết ly hôn với anh Phan Lạc T là đúng thẩm quyền theo Điều 28, Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về hôn nhân: Chị Cấn Thị Th và anh Phan Lạc T kết hôn tự nguyện, tổ chức cưới có đăng ký kết hôn ngày 04/10/2005 tại UBND xã H, huyện Thạch Thất, Thành phố Hà Nội là hôn nhân hợp pháp.
Quá trình chung sống, những năm đầu tình cảm vợ chồng hạnh phúc bình thường. Đến năm 2015 do anh T thường xuyên uống rượu về vô cớ đánh chửi chị Th, dẫn đến vợ chồng thường xuyên xẩy ra mâu thuẫn. Theo chị Th, có lần anh T dùng dao dí vào cổ đe dọa chị Th. Chị Th và anh T chính thứ ly thân từ ngày 01/5/2022 đến nay vì gia đình anh T đuổi chị Th ra khỏi nhà. Chị Th xác định tình cảm vợ chồng đã hết và xin được ly hôn anh T. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, anh T xác nhận vợ chồng không còn tình cảm vì chị Th đã đi quan hệ ngoại tình và đi theo người đàn ông khác đến nay không về. Nhưng vì tương lai của các con nên anh T không đồng ý ly hôn. Tại phiên tòa, chị Th giữ nguyên yêu cầu khởi kiện xin được ly hôn anh T.
Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Th và anh T đã trầm trọng, mâu thuẫn xẩy ra liên tục kéo dài từ năm 2015 đến nay nhưng anh T không có biện pháp gì để cải thiện tình cảm vợ chồng mà ngày càng mâu thuẫn căng thẳng hơn dẫn đến việc chị Th có quan hệ ngoại tình, ngày 01/5/2022 gia đình anh T đã đuổi chị Th ra khỏi nhà, cuộc sống chung không còn tồn tại, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do vậy, chị Th xin ly hôn anh T là phù hợp Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình nên được chấp nhận.
- Về nuôi con chung: Anh T và chị Th có hai con chung là cháu Phan Lạc T1, sinh ngày 08/7/2006 và Phan Lạc Gia L, sinh ngày 30/5/2011. Từ khi vợ chồng sống ly thân đến nay thì cháu T1 và cháu L sống với anh T. Ý kiến của các con đếu có nguyện vọng được tiếp tục sống với bố.
Tại phiên tòa chị Th và anh T cũng thỏa thuận việc nuôi con theo nguyện vọng của các con là giao cả hai con chung cho anh T tiếp tục nuôi dưỡng.
Xét thấy việc thỏa thuận nuôi con trên của chị Th và anh T đảm bảo được được cuộc sống và học tập ổn định của các con và phù hợp pháp luật nên được chấp nhận.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh T không yêu cầu chị Th cấp dưỡng nuôi con chung nên tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho chị Th đến khi có thay đổi khác.
- Về chia tài sản chung: Anh T và chị Th không yêu cầu Tòa án giải quyết tài sản nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Chị Cấn Thị Th phải chịu 300.000đồng án phí ly hôn sơ thẩm và được trừ vào số tiền đã nộp dự phí tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạch Thất.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ các điều 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn, Bị đơn có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ các điều 51, 56, 57, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình.
Căn cứ Khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Khoản 4 Điều 147, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Xử:
1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Cấn Thị Th và anh Phan Lạc T.
2. Về nuôi con chung: Chị Cấn Thị Thu và anh Phan Lạc Tân thống nhất có hai con chung là cháu Phan Lạc T, sinh ngày 08/7/2006 và Phan Lạc Gia L, sinh ngày 30/5/2011.
Giao cả hai con chung là cháu Phan Lạc T1, sinh ngày 08/7/2006 và cháu Phan Lạc Gia L, sinh ngày 30/5/2011 cho anh Phan Lạc T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi con chung trưởng thành (đủ 18 tuổi) hoặc đến khi có thay đổi khác.
Chị Th có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở nhưng không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung của người trực tiếp nuôi con.
Tạm hoãn cấp dưỡng nuôi con chung cho chị Cấn Thị Th đến khi có quyết định thay đổi khác.
3. Về tài sản chung: Chị Cấn Thị Th và anh Phan Lạc T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4. Về án phí: Chị Cấn Thị Th phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp dự phí tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạch Thất theo biên lai số 0025643 ngày 05/12/2022.
5. Về quyền kháng: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND Thành phố Hà Nội; - VKSND huyện Thạch Thất; - Chi cục THADS huyện Thạch Thất; - Các đương sự; - UBND xã H, Thạch Thất; - Lưu HS, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký Đỗ Ngọc Sơn |