vanban.org

Bản án 37/2023/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND Q. Hải Châu, TP Đà Nẵng Tuyên án 15/05/2023 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: Điều 122, khoản 1, khoản 4 điều 424 và điều 518 của Bộ luật dân sự năm 2005; điểm b khoản 3 điều 23 Nghị quyết số 03/2012/NQ-HĐTP ngày 03.

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Ngô Thị B về việc “Tranh chấp hợp đồng dịch vụ pháp lý” đối với ông Võ Văn Đ, trưởng Văn phòng luật sư T. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Ngô Thị B phải chịu 3.695.000 đồng. Bà B đã nộp tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm là 1.541.000 đồng theo biến lai thu số 5451 ng… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: Điều 122, khoản 1, khoản 4 điều 424 và điều 518 của Bộ luật dân sự năm 2005; điểm b khoản 3 điều 23 Nghị quyết số 03/2012/NQ-HĐTP ngày 03.
  • Căn cứ chính? Điều 424 Bộ luật Dân sự; Pháp lệnh số 10/2009/UBTVQH12 Án phí, lệ phí tòa án; Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN
Q. HẢI CHÂU - TP ĐÀ NẴNG
Bản án số: 37/2023/DS-ST
Ngày: 15/5/2023
V/v “ Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU-TP ĐÀ NẴNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Hồng Loan

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Xoa và ông Nguyễn Xuân Tùng

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ly Na - Kiểm sát viên.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Đình Vui - Thư ký Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.

Ngày 15 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hải Châu - 344 A Lê Thanh Nghị, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 220/2022/TLST - DS ngày 17 tháng 10 năm 2022 về việc “ Tranh chấp hợp đồng vay tài sản ” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 34/2022/QĐXX-ST ngày 04 tháng 4 năm 2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 38/2023/QĐST-DS ngày 27/4/2023 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Bà Trần Thị X- sinh năm 1952; Địa chỉ: Tổ 17, phường Hoà Hiệp N, quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng.

- Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn: Bà Võ Thị Minh L– Sinh năm: 1962. Địa chỉ: Số 33 Bầu M 7, phường Hoà Khánh B, quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng, có mặt.

* Bị đơn: Bà Huỳnh Thị Xuân Th- sinh năm 1977; Địa chỉ: Số 33 T 6, phường Hoà Cường N, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.

NỘI DUNG CỦA VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện nộp ngày 11/10/2022 và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Trần Thị X trình bày:

Do quen biết nhau nên vào ngày 05/11/2019 bà Huỳnh Thị Xuân Th có mượn của bà Trần Thị X số tiền 270.000.000 đồng (Hai trăm bảy mươi triệu đồng) và có hẹn đến ngày 15/02/2022 sẽ trả cho bà X. Khi vay các bên không thỏa thuận tiền lãi và bà Th cũng không viết giấy nợ. Bà X nhiều lần yêu cầu bà Th trả nợ, nhưng bà Th không trả. Ngày 18/5/2022, bà Th đã viết giấy nợ và hẹn sẽ trả cho bà X 50.000.000 đồng vào ngày 20/6/2022 và ngày 20/10/2022 trả tiếp cho bà X 50.000.000 đồng, số tiền còn lại sẽ trả cho bà X vào năm 2023, tuy nhiên đến ngày 20/6/2022 bà Th không trả cho bà X như đã cam kết. Bà Xđã nhiều lần điện thoại yêu cầu bà Th trả tiền nhưng bà Th không nghe điện thoại. Vì vậy bà Xđề nghị Tòa án buộc bà Th phải trả lại cho bà Xsố nợ gốc là 270.00.000 đồng. Ngoài ra bà Xcòn yêu cầu bà Th phải trả tiền lãi từ ngày 05/11/2019 đến ngày 05/10/2022 là 94.500.000 đồng. Tổng cộng gốc và lãi là 364.000.000 đồng.

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là bà Võ Thị Minh Ltrình bày: Căn cứ vào giấy mượn tiền ngày 18/5/2022, nay nguyên đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện, cụ thể không yêu cầu bà Huỳnh Thị Xuân Th trả tiền lãi 94.500.000 đồng mà đề nghị Tòa án buộc bà Th phải trả lại cho bà Xsố nợ gốc là 270.00.000 đồng.

Do bị đơn là bà Huỳnh Thị Xuân Th đã bỏ đi khỏi địa phương nên Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng đã làm thủ tục thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng (đăng Báo Thanh niên 03 ngày liên tiếp 14,15,16/02/2023; thông báo trên Đài phát thanh truyền hình Đà Nẵng trong 03 ngày liên tiếp 14,15,16/02/2023) và cổng thông tin điện tử của Tòa án theo quy định tại Điều 180 của Bộ luật tố tụng dân sự. Từ khi thụ Lvụ án cho đến nay bà Huỳnh Thị Xuân Th không đến Tòa án để trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Xcũng như không tham gia phiên hòa giải ngày 09/3/2023, phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải ngày 27/3/2023 dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ Lvụ án và thông báo phiên họp nêu trên. Tại phiên tòa hôm nay, bà Th tiếp tục vắng mặt lần thứ 2 nhưng vẫn không có Ldo.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến như sau:

+ Về tố tụng: Thống nhất về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử cũng như việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng.

+ Về ý kiến giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX căn cứ các Điều 463, Điều 466, Điều 470 của Bộ luật dân sự năm 2015 chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Xa, buộc bà Huỳnh Thị Xuân Th phải thanh toán cho bà Trần Thị Xsố tiền 270.000.000 đồng. Căn cứ Điều 244 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 đình chỉ xét xử đối với yêu cầu lãi suất chậm thanh toán.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

VÒ thñ tôc tè tông:

Tßa ¸n ®· nhiều lần triệu tập hợp lệ bà Huỳnh Thị Xuân Th nh ng bà Th vÉn v¾ng mÆt kh«ng cã Ldo. Do bị đơn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2 nên căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Về nội dung tranh chấp:

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn rút yêu cầu buộc bị đơn thanh toán tiền lãi là 94.500.000 đồng. Việc đại diện nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với số tiền lãi 94.500.000 đồng là tự nguyện, phù hợp với Điều 244 của Bộ luật tố tụng dân sự nên HĐXX đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu này.

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn đề nghị Tòa án buộc bị đơn phải thanh toán cho nguyên đơn số tiền nợ gốc 270.000.000 đồng. Bị đơn vắng mặt và không có văn bản phản hồi.

Xét yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn phải thanh toán cho nguyên đơn tổng số tiền 270.000.000 đồng tiền nợ gốc thì thấy: Do quen biết nhau nên nguyên đơn có cho bị đơn vay 270.000.000 đồng, các bên không có thỏa thuận tiền lãi. Khi vay bị đơn có viết giấy mượn tiền vào ngày 18/5/2022, hẹn đến ngày 20/6/2022 sẽ trả cho bà X50.000.000 đồng và ngày 20/10/2022 trả tiếp cho bà X50.000.000 đồng, số tiền còn lại sẽ trả cho bà Xvào năm 2023, tuy nhiên đến ngày 20/6/2022 bà Th không trả cho bà Xnhư đã cam kết. Bà Xđã nhiều lần điện thoại yêu cầu bà Th trả tiền nhưng bà Th không nghe điện thoại nên bà Xđề nghị Tòa án buộc bà Th phải trả lại cho bà X270.00.000 đồng. Như vậy, giấy mượn tiền ngày 18/5/2022 thể hiện giữa bà Trần Thị Xvà bà Huỳnh Thị Xuân Th có xác lập giao dịch vay tiền, các bên có thỏa thuận về thời hạn vay nhưng không thỏa thuận về lãi suất nên xác định giao dịch dân sự giữa bà Xvà bà Th là hợp đồng vay tài sản có kỳ hạn và không có lãi quy định tại Điều 470 của Bộ luật dân sự năm 2015. Xét thấy, quá trình thực hiện giao dịch vay tiền trên, bà Th đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn phải thanh toán cho nguyên đơn số tiền nợ gốc là 270.000.000 đồng là phù hợp với Điều 463 và Điều 466 của Bộ luật Dân sự.

Kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật cho đến khi thi hành án xong, bà Huỳnh Thị Xuân Th còn phải chịu khoản tiền lãi trên số nợ gốc theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

- Do chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên án phí dân sự sơ thẩm bị đơn phải chịu với số tiền 270.000.000 đồng x 5% = 13.500.000 đồng.

- Xét thấy bà Trần Thị X- sinh năm 1952, là người cao tuổi nên thuộc trường hợp được miễn nộp tạm ứng án phí và án phí quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản Lvà sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và Điều 244 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Căn cứ Điều 463, 466, 468 và 470 của Bộ luật Dân sự; Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm và Nghị quyết số 326 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản Lvà sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Xvề việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” đối với bà Huỳnh Thị Xuân Th.

1.Xử :

- Đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn phải trả số tiền lãi là 94.500.000 đồng.

- Buộc bà Huỳnh Thị Xuân Th phải trả cho bà Trần Thị Xsố tiền 270.000.000 đồng.

Kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật cho đến khi thi hành án xong, bà Huỳnh Thị Xuân Th còn phải chịu khoản tiền lãi trên số nợ gốc theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

2.Án phí DSST:

- Án phí DSST là 13.500.000 đồng bà Huỳnh Thị Xuân Th phải chịu.

- Bà Trần Thị Xđược miễn nộp tiền tạm ứng án phí và án phí.

3. Án xử công khai sơ thẩm, nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận (hoặc niêm yết) bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Các đương sự;

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

- VKSND Q. Hải Châu;

- CCTHADS Q. Hải Châu;

(Đã ký và đóng dấu)

- Lưu hồ sơ vụ án.

Phạm Thị Hồng Loan

Khi giải quyết vụ án, trước giai đoạn tố tụng tạm đình chỉ (1997), ông Hưng đã cung cấp các đơn, giấy ủy quyền lập năm 1991, 1992, 1993, 1994 của ông Đường, bà Cẩm, bà Thảo có nội dung giao cho ông Hưng trông coi quản L tài sản thừa kế phần của họ trong di sản thừa kế là nhà đất số 66 phố Đồng Xuân; sau đó ông Hưng lại cung cấp các văn bản lập năm 1995 của ông Đường, bà Thảo và bà Cẩm có nội dung cho hẳn ông Hưng phần thừa kế của mình trong tài sản tranh chấp. Các văn bản đều có tem và con dấu của nước sở tại (ông Đường ở Anh, bà Cẩm ở Pháp và bà Thảo ở Mỹ), nhưng chỉ là bản photocopy. Tuy nhiên, các đương sự đều ghi rõ số nhà, địa chỉ của người viết văn bản. Trong quá trình thụ Lgiải quyết lại vụ án sau giai đoạn tạm đình chỉ, ông Hưng, bà Tiến, bà Hậu đều khai ông Đường, bà Thảo đã chết khoảng năm 2002, ông Hưng xác định địa chỉ của bà Cẩm, bà Thảo không thay đổi, còn ông đã liên lạc với con ông Đường nhưng không nhận được hồi âm (bút lục 376, 377, 382). Tòa án cấp sơ thẩm yêu cầu ông Hưng phải cung cấp chứng tử của ông Đường, bà Thảo; tên, địa chỉ của con ông Đường, bà Thảo. Ông Hưng khai không cung cấp được và đề nghị Tòa án thu thập chứng cứ để giải quyết theo pháp luật (bút lục 390). Như vậy, trong hồ sơ đã có địa chỉ của những người đã sống ở nước ngoài, còn việc yêu cầu ông Hưng cung cấp chứng tử của ông Đường bà Thảo là không cần thiết, vì cả ba người ở trong nước đều xác nhận hai người này đã chết. Lẽ ra, Tòa án cấp sơ thẩm phải thực hiện thủ tục ủy thác tư pháp theo quy định, thu thập chứng cứ đối với ông Đường, bà Thảo để làm rõ thời điểm những người này chết và nếu hai người chết này còn có người thừa kế thì hỏi họ về quan điểm giải quyết vụ án. Tùy từng trường hợp căn cứ chứng cứ mới để giải quyết vụ án theo quy định. Nếu không thu thập được chứng cứ gì hơn thì vẫn phải giải quyết yêu cầu của ông Hưng để được hưởng thừa kế theo pháp luật, phần thừa kế của ông Đường bà Thảo sẽ tạm giao cho những người đang sống trong nước quản Lđể sau này người thừa kế của họ có quyền hưởng theo pháp luật, như vậy mới giải quyết dứt điểm vụ án. Đối với những người đang sống tại phần nhà bà Tiến bán thì nghĩa vụ cung cấp tên tuổi của họ là của bà Tiến. Tòa án cấp sơ thẩm yêu cầu ông Hưng cung cấp tên tuổi của những người này là không đúng đối tượng. Tòa án cấp sơ thẩm cho rằng ông Hưng không cung cấp được tên, địa chỉ của con ông Đường, bà Thảo, người mua nhà của bà Oanh để đình chỉ giải quyết vụ án là không đúng. Tòa án cấp phúc thẩm lẽ ra phải hủy quyết định sơ thẩm để giao giải quyết lại nhưng lại giữ nguyên quyết định sơ thẩm là không đúng.

Ngoài ra, theo các tài liệu có trong hồ sơ và lời khai của ông Hoàng Mạnh Khôi ngày 17-10-2007 (bút lục 373) và “Giấy bán nhà” ngày 31-10-1993 (bút lục 18), thì bà Hậu bán phần nhà mà bà đang quản Lcho bà Hà Thùy Linh (chồng là ông Hoàng Mạnh Khôi). Quyết định sơ thẩm và phúc thẩm lại ghi là bà Nguyễn Thị Thùy Linh là không chính xác, cần điều chỉnh lại cho phù hợp.

Vì các lẽ trên, căn cứ vào khoản 3 Điều 297 và Điều 299 Bộ luật tố tụng dân sự;

QUYẾT ĐỊNH

1. Huỷ Quyết định số 44/2010/QĐ-PT ngày 09-3-2010 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội và hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 54/2009/DS-ST ngày 30-9-2009 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội về vụ án tranh chấp thừa kế, giữa nguyên đơn là ông Vũ Đình Hưng với bị đơn là bà Vũ Thị Tiến, bà Vũ Thị Hậu; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Vũ Đình Đường, bà Vũ Thị Cẩm, bà Vũ Thị Thảo, bà Nguyễn Thị Kim Oanh, bà Hà Thùy Linh.

2. Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội giải quyết sơ thẩm lại vụ án theo đúng quy định của pháp luật.

NỘI DUNG ÁN LỆ

“Lẽ ra, Tòa án cấp sơ thẩm phải thực hiện thủ tục ủy thác tư pháp theo quy định, thu thập chứng cứ đối với ông Đường, bà Thảo để làm rõ thời điểm những người này chết và nếu hai người chết này còn có người thừa kế thì hỏi họ về quan điểm giải quyết vụ án. Tùy từng trường hợp căn cứ chứng cứ mới để giải quyết vụ án theo quy định. Nếu không thu thập được chứng cứ gì hơn thì vẫn phải giải quyết yêu cầu của ông Hưng để được hưởng thừa kế theo pháp luật, phần thừa kế của ông Đường bà Thảo sẽ tạm giao cho những người đang sống trong nước quản Lđể sau này người thừa kế của họ có quyền hưởng theo pháp luật, như vậy mới giải quyết dứt điểm vụ án. Đối với những người đang sống tại phần nhà bà Tiến bán thì nghĩa vụ cung cấp tên tuổi của họ là của bà Tiến. Tòa án cấp sơ thẩm yêu cầu ông Hưng cung cấp tên tuổi của những người này là không đúng đối tượng. Tòa án cấp sơ thẩm cho rằng ông Hưng không cung cấp được tên, địa chỉ của con ông Đường, bà Thảo, người mua nhà của bà Oanh để đình chỉ giải quyết vụ án là không đúng. Tòa án cấp phúc thẩm lẽ ra phải hủy quyết định sơ thẩm để giao giải quyết lại nhưng lại giữ nguyên quyết định sơ thẩm là không đúng.”

Về thời hiệu khởi kiện:

- Xét ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn cho rằng thời hiệu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn đã hết và đề nghị Tòa án đình chỉ giải quyết vụ án. HĐXX xét thấy:

Vào ngày 17.12.2013 và ngày 19.12.2013 bà Ngô Thị B và văn phòng luật sư T, do ông Võ Văn Đ làm trưởng văn phòng có xác lập 02 Hợp đồng dịch vụ pháp Lsố 22 và số 23. Theo bà Btrình bày là bà yêu cầu luật sư Đ trực tiếp bảo về quyền, lợi ích hợp pháp cho bà trong hai vụ kiện với bà Nguyễn Thị H và bà Nguyễn Thị Minh A, nhưng do luật sư Đc ử luật sư Nguyễn Ngọc Ch tham gia và không tranh luận nên tại bản án số 04/2014/DS-PT, ngày 07.01.2014 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng về việc “ Tranh chấp nghĩa vụ trả tiền họ” giữa nguyên đơn là bà Ngô Thị B và bị đơn là bà Nguyễn Thị H chỉ chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà. Đối với vụ án “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” giữa nguyên đơn là bà Ngô Thị B và bị đơn Nguyễn Thị Minh A, do luật sư Võ Văn Đ không có mặt tại phiên tòa để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bà nên tại bản án số 62/2014/ DS-ST ngày 29.8.2014 Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng cũng chỉ chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà. Cho rằng ông Đ vi phạm hợp đồng, nên bà B đã nhiều lần đến Văn phòng luật sư T đòi lại số tiền đã nộp. Ngày 10.6.2016 bà Bkhiếu nại đến đoàn luật sư thành phố Đà Nẵng. Ngày 20.9.2016 Đoàn luật sư thành phố Đà Nẵng đã gởi văn bản trả lời về đơn khiếu nại của bà B. Ngày 30.9.2016 bà B nộp đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân quận Hải Châu yêu cầu Tòa án buộc ông Võ Văn Đ, trưởng Văn phòng luật sư T phải trả lại tiền cho bà và các khoản phát sinh. Tổng cộng là 73.908.000 đồng.

Tại điểm b khoản 3 điều 23 Nghị quyết số 03/2012/NQ-HĐTP ngày 03.12.2012 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ nhất “ Những quy định chung” của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2005 đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự quy định: “ Đối với tranh chấp về quyền sở hữu tài sản, về đòi tài sản… thông qua giao dịch dân sự thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện ”. Vậy bà B có quyền khởi kiện ông Võ Văn Đ, trưởng Văn phòng luật sư T yêu cầu trả lại tiền bà đã nộp đối với 02 hợp đồng dịch vụ pháp Lnêu trên. Trường hợp này không áp dụng thời hiệu khởi kiện, do đó không có cơ sở chấp nhận ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, lời trình bày người đại diện của bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, ý kiến của người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị đơn thì thấy:

Ngày 17.12.2013 và ngày 19.12.2013 bà Ngô Thị B và Văn phòng luật sư Tdo Luật sư Võ Văn Đ, trưởng văn phòng xác lập hợp đồng dịch vụ pháp Lsố 22 và số 23. Theo hợp đồng số 22 đã lập thì Văn phòng luật sư T có trách nhiệm cử Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà B trong vụ án “Tranh chấp nghĩa vụ trả tiền họ” với bà Nguyễn Thị H theo thủ tục Phúc thẩm tại Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng - nếu cần thực hiện các thủ tục đề nghị giải quyết theo trình tự giám đốc thẩm. Giá trị của Hợp đồng là 10.000.000 đồng, bà Bđã nộp xong (thể hiện qua hai phiếu thu của Văn phòng luật sư Tngày 26.12.2013 nộp 5.000.000 đồng và ngày 17.01.2014 nộp 5.000.000 đồng). Đối với hợp đống số 23 thì Văn phòng luật sư Tcó trách nhiệm cử Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Btrong vụ án “ Đòi nợ” với bà Nguyễn Thị Minh A tại Tòa án nhân dân quận Hải Châu và Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng. Giá trị của hợp đồng là 12.000.000 đồng, bà B nộp 8.000.000 đồng thể hiện qua 02 phiếu thu của Văn phòng luật sư T ngày 27.12.2013 nộp 4.000.000 đồng và ngày 22.01.2014 nộp 4.000.000 đồng).

HĐXX xét thấy khi xác lập hợp đồng dân sự, các bên tham gia giao dịch dân sự có năng lực hành vi dân sự, mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội; người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện. Hình thức của hợp đồng theo quy định của pháp luật nên có cơ sở xác định 02 hợp đồng nêu trên là có thật và hợp pháp, phù hợp điều 122 và 518 của Bộ luật dân sự năm 2005.

Quá trình thực hiện hợp đồng số 22, sau khi có bản án số 04/2014/DS-PT, ngày 07.01.2014 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xét xử vụ án theo thủ tục phúc thẩm về việc “ Tranh chấp nghĩa vụ trả tiền họ” giữa nguyên đơn là bà Ngô Thị B và bị đơn là bà Nguyễn Thị H thì ngày 17.01.2014 bà Bđã nộp số tiền còn lại của hợp đồng là 5.000.000 đồng cho Văn phòng luật sư T. Như vậy Hợp đồng số 22 đã hoàn thành, phù hợp với khoản 1 điều 424 của Bộ luật dân sự năm 2005.

Quá trình thực hiện hợp đồng số 23, theo bà B trình bày do cần tiền nên bà viết nội dung “Ngày 10.6.2014 hợp đồng đã được thanh lý, mọi chuyện chấm dứt. Tôi nhận lại 3.000.000 đồng” là do Văn phòng luật sư T yêu cầu, nhưng không có chứng cứ để chứng minh. Thực tế bà B đã nhận lại 3.000.000 đồng và tự tay viết vào hợp đồng số 23 nội dung trên. Như vậy, ngày 10.6.2014 bà B đã đơn phương thanh Lhợp đồng. Do đó, ngày 29.8.2014 khi Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng mở phiên tòa xét xử vụ án “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” giữa nguyên đơn là bà Ngô Thị B và bị đơn Nguyễn Thị Minh A, Văn phòng luật sư T không cử luật sư tham gia tố tụng tại phiên tòa là có cơ sở, vì hợp đồng đã bị bà B đơn phương thanh lý, phù hợp với khoản 4 điều 424 của Bộ luật dân sự năm 2005.

Đối với 03 (ba) phiếu thu của Văn phòng luật sư Th và công sự thể hiện:

Ngày 26.12.2013 bà B nộp 5.000.000 đồng, thù lao hợp đồng dịch vụ số 22;

Ngày 17.01.2014 bà B nộp 5.000.000 đồng, thù lao hợp đồng dịch vụ số 23.

Ngày 27.12.2013 bà B nộp 4.000.000 đồng, thù lao hợp đồng dịch vụ số 23.

Tổng cộng 03 phiếu thu là 14.000.000 đồng. Nay bà B yêu cầu ông Đ, trưởng Văn phòng luật sư T trả lại cho bà số tiền trên, HĐXX thấy các phiếu này đứng tên Văn phòng luật sư Th và cộng sự, nên bà B khởi kiện ông Đ, trưởng Văn phòng luật sư T là không có căn cứ, không cơ sở chấp nhận.

Vì hợp đồng số 22 đã hoàn thành và hợp đồng số 23 bà Bđã đơn phương thanh Lhợp đồng, nên yêu cầu của bà B buộc ông Võ Văn Đ, trưởng Văn phòng luật sư T phải thanh toán cho bà tổng cộng là 73.908.000 đồng. Trong đó 29.000.000 đồng bà Bkhai đã nộp 02 hợp đồng số 22 và 23. Bồi thường ngày công lao động cho bà B phải bỏ việc để theo đuổi vụ kiện trong vòng 03 năm là 21.600.000 đồng. Tiền lãi theo lãi suất Ngân hàng Nhà nước là 0.7%/tháng (kể từ ngày ký phiếu thu cuối cùng cho đến ngày 21.12.2016 là 36 tháng) là 7.308.000 đồng. Tiền thự lao cho ông Kh là 16.000.000 đồng để tham gia vụ kiện nay với tư cách là đại diện theo ủy quyền cho bà B là không có cơ sở, không được chấp nhận.

Do không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà B nên bà B phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo giá ngạch là 73.908.000 đồng x 5% = 3.695.400 đồng. Bà B đã nộp tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm là 1.541.000 đồng theo biến lai thu số 5451 ngày 04.11.2016 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng. Bà B còn phải nộp tiếp số tiền án phí dân sự sơ thẩm là 2.154.000 đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng: Điều 122, khoản 1, khoản 4 điều 424 và điều 518 của Bộ luật dân sự năm 2005; điểm b khoản 3 điều 23 Nghị quyết số 03/2012/NQ-HĐTP ngày 03.12.2012 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ nhất “ Những quy định chung” của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2005 đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự và Pháp lệnh số 10/2009/PL-UBTVQH12 ngày 27.02.2009 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án.

1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Ngô Thị B về việc “Tranh chấp hợp đồng dịch vụ pháp lý” đối với ông Võ Văn Đ, trưởng Văn phòng luật sư T.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Ngô Thị B phải chịu 3.695.000 đồng. Bà B đã nộp tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm là 1.541.000 đồng theo biến lai thu số 5451 ngày 04.11.2016 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng. Bà B còn phải nộp tiếp số tiền án phí dân sự sơ thẩm là 2.154.000 đồng.

3. Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ