vanban.org

Bản án 37/2023/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND huyện U Minh, tỉnh Cà Mau Tuyên án 15/03/2023 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Ngô Thị L-Nguyễn Hằng N"
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!!!!!!!!!!!!!!!!!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!
!!!HUYỆN!U!MINH!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!Độc!lập!–!Tự!do!–!Hạnh!phúc!
!!!!!TỈNH!CÀ!MAU!
Bản án số: 37/2023/DS-ST
Ngày 15 - 3 - 2023
“V/v tranh chấp hợp đồng góp hụi”

NHÂN!DANH

NƯỚC!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!

!

TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!HUYỆN!U!MINH,!TỈNH!CÀ!MAU!

!

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Văn Việt!

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lưu Xuân Vĩnh

Ông Châu Hoàng Huy

-!Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Lụa là Thư ký Tòa án nhân dân huyện U Minh,

tỉnh Cà Mau

Ngày 15 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện U Minh, tỉnh Cà Mau

xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 188/2022/TLST-DS ngày 06 tháng 7 năm 2022 về việc tranh chấp hợp đồng góp hụi, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2023/QĐXXST-DS ngày 12 tháng 01 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Ngô Thị L, sinh năm 1958 (có mặt).

Địa chỉ: Ấp A, xã KH, huyện U Minh, tỉnh Cà Mau.

- Bị đơn:

1. Bà Nguyễn Hằng N, sinh năm 1984 (vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp A, xã KH, huyện U Minh, tỉnh Cà Mau.

Chỗ ở hiện nay: Ấp A, xã KH, huyện U Minh, tỉnh Cà Mau.

2. Ông Huỳnh Văn L, sinh năm 1980 (vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp A, xã KH, huyện U Minh, tỉnh Cà Mau.

NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:

- Trong đơn khởi kiện ngày 22/6/2022 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà

Ngô Thị L trình bày:

Bà làm chủ hụi có mở các dây hụi, bà Nguyễn Hằng N tham gia chơi hụi và còn

thiếu bà tiền hụi như sau:

Dây thứ nhất: Mở ngày 06/5/2018 (âm lịch), mỗi chưng 2.000.000 đồng, mỗi tháng

khui một lần, có tổng số 21 chưng, bà N tham gia 01 chưng. Đến ngày 06/11/2018 (âm lịch), bà N hốt chưng hụi này với số tiền 29.340.000 đồng. Sau khi hốt hụi bà N không đóng hụi là 14 tháng x 2.000.000 đồng = 28.000.000 đồng.

Dây thứ hai: Mở ngày 06/5/2018 (âm lịch), mỗi chưng 1.000.000 đồng, mỗi tháng

khui một lần, có tổng số 27 chưng, bà N tham gia 01 chưng. Đến ngày 06/12/2018 (âm lịch), bà N hốt chưng hụi này với số tiền 16.500.000 đồng. Sau khi hốt hụi bà N không đóng hụi là 19 tháng x 1.000.000 đồng = 19.000.000 đồng.

Dây thứ ba: Mở ngày 10/8/2017 (âm lịch), mỗi chưng 1.000.000 đồng, mỗi tháng

khui một lần, có tổng số 31 chưng, bà N tham gia 01 chưng. Đến ngày 10/10/2017 (âm lịch), bà N hốt chưng hụi này với số tiền 20.050.000 đồng. Chưng hụi này bà N đóng hụi được 18 tháng, bà N không đóng hụi là 13 tháng x 1.000.000 đồng = 13.000.000 đồng.

Dây thứ tư: Mở ngày 15/5/2017 (âm lịch), mỗi chưng 1.000.000 đồng, mỗi tháng

khui một lần, có tổng số 33 chưng, bà N tham gia 01 chưng. Sau đó bà N hốt chưng hụi này với số tiền 23.340.000 đồng. Sau khi hốt hụi bà N không đóng hụi là 12 tháng x 1.000.000 đồng = 12.000.000 đồng.

Dây thứ năm: Mở ngày 22/10/2017 (âm lịch), mỗi chưng 1.000.000 đồng, mỗi tháng

khui một lần, có tổng số 33 chưng, bà N tham gia 01 chưng. Đến ngày 22/11/2017 (âm lịch), bà N hốt chưng hụi này với số tiền 20.400.000 đồng. Chưng hụi này bà N đóng hụi đến tháng 01/2019 (âm lịch), bà N không đóng hụi là 17 tháng x 1.000.000 đồng = 17.000.000 đồng.

Dây thứ sáu: Mở ngày 24/01/2018 (âm lịch), mỗi chưng 1.000.000 đồng, mỗi tháng

khui một lần, có tổng số 28 chưng, bà N tham gia 01 chưng. Đến ngày 24/4/2018 (âm lịch), bà N hốt chưng hụi này với số tiền 17.000.000 đồng. Sau khi hốt hụi bà N không đóng hụi là 15 tháng x 1.000.000 đồng = 15.000.000 đồng.

Dây thứ bảy: Mở ngày 26/7/2018 (âm lịch), mỗi chưng 1.000.000 đồng, mỗi tháng

khui một lần, có tổng số 26 chưng, bà N tham gia 01 chưng. Đến ngày 26/11/2018 (âm lịch), bà N hốt chưng hụi này với số tiền 15.470.000 đồng. Chưng hụi này bà N đóng hụi đến ngày 26/01/2019 (âm lịch), bà N không đóng hụi là 19 tháng x 1.000.000 đồng = 19.000.000 đồng.

Nay bà yêu cầu bà N và ông L (chồng bà N trước đây) trả số tiền hụi còn thiếu tổng

cộng 120.000.000 đồng (tính tròn) và trả lãi tiền hụi chậm trả từ thời điểm mãn hụi đến nay là 22 tháng với mức lãi 10%/năm.

NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa

và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục: Tòa án đã triệu tập xét xử hợp lệ đến lần thứ hai, nhưng tại phiên tòa

hôm nay bị đơn bà Nguyễn Hằng N và ông Huỳnh Văn L vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt đối với bà N và ông L.

[2] Về nội dung khởi kiện của bà L: Bà L cho rằng bà làm chủ hụi, bà N tham gia

chơi hụi, bà N còn thiếu bà tiền hụi như sau:

Dây thứ nhất: Mở ngày 06/5/2018 (âm lịch), bà N còn thiếu 14 tháng x 2.000.000

đồng/chưng = 28.000.000 đồng.

Dây thứ hai: Mở ngày 06/5/2018 (âm lịch), bà N còn thiếu 19 tháng x 1.000.000

đồng/chưng = 19.000.000 đồng.

Dây thứ ba: Mở ngày 10/8/2017 (âm lịch), bà N còn thiếu 13 tháng x 1.000.000

đồng/chưng = 13.000.000 đồng.

Dây thứ tư: Mở ngày 15/5/2017 (âm lịch), bà N còn thiếu 12 tháng x 1.000.000

đồng/chưng = 12.000.000 đồng.

Dây thứ năm: Mở ngày 22/10/2017 (âm lịch), bà N còn thiếu 17 tháng x 1.000.000

đồng/chưng = 17.000.000 đồng.

Dây thứ sáu: Mở ngày 24/01/2018 (âm lịch), bà N còn thiếu 15 tháng x 1.000.000

đồng/chưng = 15.000.000 đồng.

Dây thứ bảy: Mở ngày 26/7/2018 (âm lịch), bà N còn thiếu 19 tháng x 1.000.000

đồng/chưng = 19.000.000 đồng.

Tổng cộng các chưng hụi nói trên bà N và ông L (chồng bà N trước đây) còn thiếu

bà L với số tiền 123.000.000 đồng, bà L chỉ yêu cầu bà N và ông L trả với số tiền 120.000.000 đồng

[3] Về giao dịch hợp đồng góp hụi, số tiền hụi bà N và ông L còn thiếu như bà L

trình bày là thực tế có diễn ra, điều này phù hợp với các danh sách hụi bà L cung cấp có tại hồ sơ, cũng như đơn yêu cầu ly hôn và bản tự khai của bà N và ông L khi hai người ly hôn đã xác định như đơn khởi kiện ly hôn của bà N ngày 12/7/2017, bản tự khai của bà N ngày 12/7/2017 và đơn yêu cầu của ông L ngày 29/7/2019. Tại đơn yêu cầu và bản tự khai nói trên bà N và ông L đều đã xác định có nợ bà L số tiền 120.000.000 đồng. Quá trình giải quyết vụ án bà N và ông L cũng không có ý kiến gì đối với nội dung khởi kiện của bà L. Kể từ khi mãn hụi đến nay phía bà N và ông L chưa đóng đủ tiền hụi tại các chưng hụi đã hốt cho bà L nên bà L khởi kiện yêu cầu bà N và ông L trả tiền hụi còn thiếu tổng cộng 120.000.000 đồng là có căn cứ chấp nhận. Số tiền hụi này có trong thời kỳ hôn nhân của bà N và ông L nên hai người phải có nghĩa vụ trả cho bà L, hiện tại bà N và ông L đã ly hôn nên phân chia mỗi người phải trả ½ số tiền hụi cho bà L với số tiền 60.000.000 đồng.

[4] Về lãi suất tiền hụi chậm trả: Sau khi hốt hụi hàng tháng bà N và ông L không

đóng đầy đủ các chưng hụi đã hốt theo thỏa thuận nên bà L yêu cầu bà N và ông L trả lãi tiền hụi chậm trả từ thời điểm mãn hụi đến thời điểm khởi kiện tương ứng 22 tháng với mức lãi 10%/năm là có căn cứ chấp nhận. Cụ thể lãi suất tiền hụi chậm trả như sau: Tiền hụi thiếu 120.000.000 đồng x 10%/năm x 22 tháng (tính tròn kể từ ngày mãn hụi đến nay) = 22.000.000 đồng. Bà N và ông L mỗi người phải trả ½ tiền lãi cho bà L với số tiền 11.000.000 đồng.

[5] Tổng cộng tiền hụi còn thiếu và lãi suất tiền hụi chậm trả bà N và ông L mỗi

người phải cho bà L với số tiền 71.000.000 đồng.

[6] Về án phí: Do khởi kiện của bà L được chấp nhận nên bà N và ông L phải chịu

toàn bộ án phí có giá ngạch 5% trên số tiền phải thực hiện nghĩa vụ, bà N và ông L mỗi người phải chịu án phí 3.550.000 đồng. Bà L không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT!ĐỊNH:!

!

Áp dụng các Điều 357, 468, 471 Bộ luật dân sự năm 2015, khoản 2 Điều 26 của

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận khởi kiện của bà Ngô Thị L đối với bà Nguyễn Hằng N và

ông Huỳnh Văn L.

Buộc bà Nguyễn Hằng N và ông Huỳnh Văn L mỗi người phải có nghĩa vụ trả tiền

hụi còn thiếu và lãi suất tiền hụi chậm trả cho bà Ngô Thị L với số tiền 71.000.000 đồng (Bảy mươi mốt triệu đồng).

Kể từ khi bản án có hiệu lực, bà Ngô Thị L có đơn yêu cầu thi hành án, bà Nguyễn

Hằng N và ông Huỳnh Văn L chậm thực hiện nghĩa vụ trả số tiền nói trên thì hàng tháng còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

Án phí dân sự có giá ngạch bà Nguyễn Hằng N và ông Huỳnh Văn L mỗi người

phải chịu 3.550.000 đồng (Ba triệu năm trăm năm chục ngàn đồng).

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án

dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bà Ngô Thị L có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày

tuyên án. Bà Nguyễn Hằng N và ông Huỳnh Văn L vắng mặt có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ. !!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!TM.!HỘI!ĐỒNG!XÉT!XỬ!SƠ!THẨM!

Cỡ chữ