vanban.org

Bản án 37/2023/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La Tuyên án 10/08/2023 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đinh Dũng S. Buộc bị đơn ông Vì Văn M phải thanh toán cho ông Đinh Dũng S và bà Nguyễn Thị N số tiền nợ gốc là 8.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành (ông Đinh Dũng S) cho đến khi thi hành án xong, Anh Lò Văn Liên và ông Lò Văn Mầng còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015. Đình chỉ một phần yêu … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Đinh S và Vì Văn M"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đinh Dũng S. Buộc bị đơn ông Vì Văn M phải thanh toán cho ông Đinh Dũng S và bà Nguyễn Thị N số tiền nợ gốc là 8.
  • Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN M SƠN
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 37/2023/DS-ST
Ngày 10 ngày 8 năm 2023
V/v tranh chấp hợp đồng vay
tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN M SƠN, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nông Văn Thịnh

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Đức Việt

Ông Cầm Văn Tổ

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Vân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện M Sơn, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện M Sơn tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tâm – Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện M Sơn, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số: 65/2023/TLST-DS ngày 04 tháng 5 năm 2023 về tranh chấp hợp đồng vay tài sản. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2023/QĐXXST-DS ngày 23 tháng 6 năm 2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Đinh Dũng S, sinh năm 1960. Địa chỉ: Tiểu khu A, xã C, huyện M Sơn, tỉnh Sơn La. Có mặt.

Bị đơn: Ông Vì Văn M, sinh năm 1988. Địa chỉ: Bản N, xã P, huyện M Sơn, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1964. Địa chỉ: Tiểu khu A, xã C, huyện M Sơn, tỉnh Sơn La. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn – ông Đinh Dũng S trình bày:

Ông và vợ là Nguyễn Thị N có đầu tư cho anh Vì Văn M (con ông Ín), trú tại Bản N, xã P để mua phân, giống, mua gạo, thức ăn. Hai bên đã tiến hành đối chiếu công nợ xác định tính đến ngày 20/12/2013, anh anh M còn nợ ông bà số tiền là 11.800.000VNĐ thể hiện tại giấy vay tiền ngày ngày 20/12/2013. Theo đó, anh M có trách nhiệm thanh toán đủ cho ông vào ngày 30/11/2014. Tuy nhiên, từ thời điểm đó đến nay, anh M vẫn chưa thanh toán đủ cho ông số tiền còn nợ. Mặc dù đã nhiều lần yêu cầu thanh toán nhưng anh M đều khất nợ, không có động thái thanh toán tiền. Vì vậy, ông khởi kiện đề nghị anh Vì Văn M phải có trách nhiệm thanh toán cho ông số tiền vay là 11.800.000VNĐ theo giấy vay tiền đề ngày 20/12/2013 và tiền lãi phát sinh từ ngày 230/11/2014 theo đến nay theo lãi xuất quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện, đề nghị anh Vì Văn M thanh toán số tiền nợ gốc là 8.000.000VNĐ theo giấy vay tiền đề ngày 20/12/2013 và không đề nghị tính lãi.

Tại biên bản lấy lời khai và quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Vì Văn M trình bày:

Anh xác nhận có nhận đầu tư của bà N và ông S vào năm 2010 để mua phân và giống nhưng ông S tính giá cao hơn thị trường. Vì vậy, đến năm 2012 anh dừng nhận đầu tư của ông S. Khi đối chiếu công nợ, anh xác nhận còn nợ ông S là 8.000.000VNĐ nhưng không lưu lại giấy tờ. Đối với giấy chốt nợ số tiền 11.800.000VNĐ anh không được ký. Đối với số tiền còn nợ là 8.000.000VNĐ, anh sẽ thanh toán dần.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị N trình bày:

Bà là vợ của ông Đinh Dũng S. Toàn bộ sự việc như ông S trình bày, bà nhất trí với yêu cầu khởi kiện của ông S, đề nghị Tòa án buộc anh Vì Văn M phải có trách nhiệm thanh toán cho ông bà số tiền vay là 8.000.000VNĐ và không yêu cầu tính lãi.

Do các đương sự không thỏa thuận được việc giải quyết vụ án, Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo quy định.

Sau khi những người tham gia tố tụng phát biểu tranh luận tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện M Sơn, tỉnh Sơn La phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và quan điểm giải quyết vụ án như sau:

- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định của pháp luật.

- Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến phiên tòa ngày hôm nay nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình.

- Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng các Điều 357, 463, 464, 465, 466 và 468 Bộ luật Dân sự; khoản 1 Điều 147, Điều 227, 244, 266, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm d khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Tuyên xử theo hướng: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Đinh Dũng S. Buộc bị đơn anh Vì Văn M phải thanh toán cho ông Đinh Dũng S số tiền nợ gốc là 8.000.000VNĐ. Đình chỉ yêu cầu tính lãi.

Về án phí: Bị đơn được miễn án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Việm kiểm sát, Hội đồng xét xử xét thấy:

Về quan hệ pháp luật: Nguyên đơn ông Đinh Dũng S khởi kiện yêu cầu anh Vì Văn M phải thanh toán số tiền vay theo giấy vay ngày 20/12/2013 nên Tòa án nhân dân huyện M Sơn thụ lý vụ án tranh chấp hợp đồng vay tài sản, phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

Về xác định tư cách tham gia tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Đinh Dũng S cho rằng nguồn gốc của số tiền cho vay là tài sản chung của ông S và vợ là Nguyên Thị N. Do đó Tòa án xác định bà Nguyễn Thị N là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án là đảm bảo quyền lợi hợp pháp của các bên trong vụ án.

Về sự vắng mặt của bị đơn tại phiên tòa: Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 3 nhưng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do, không có đơn đề nghị hoãn phiên tòa nên căn cứ Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Đối với yêu cầu buộc bị đơn trả tiền nợ gốc: Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Vì Văn M xác nhận có thỏa thuận và nhận đầu tư của vợ chồng ông Đinh Dũng S và còn nợ lại số tiền là 8.000.000VNĐ. Tuy nhiên trước khi chốt nợ, nhưng ông S tính giá các sản phẩm cao hơn giá thị trường, tính lãi cao. Ngoài lời khai của anh M, không còn căn cứ nào chứng minh. Tại phiên tòa, ông S cho rằng, khi chốt nợ số tiền là 11.800.000VNĐ nhưng có hứa nếu bị đơn thanh toán luôn thì chỉ yêu cầu thanh toán 8.000.000VNĐ. Tại phiên tòa nguyên đơn đề nghị anh Vì Văn M thanh toán 8.000.000VNĐ theo nội dung thỏa thuận của hai bên sau khi ký giấy vay tiền ngày 20/12/2013. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy, bị đơn đã thừa nhận nghĩa vụ vay tài sản đối với nguyên đơn, có căn cứ khẳng định giao dịch vay tài sản giữa ông Đinh Dũng S và ông Vì Văn M thể hiện tại giấy vay tiền đề ngày 20/12/2013 là có thật, nội dung của giao dịch là hợp pháp, do đó cần được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Việc bị đơn không thanh toán tiền nợ là vi phạm nghĩa vụ đã thỏa thuận, vi phạm các điều 463, 464, 465, 466 Bộ luật dân sự, buộc ông Vì Văn M có trách nhiệm trả số tiền nợ gốc là 8.000.000VNĐ.

Về yêu cầu tính lãi: Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn đề nghị thanh toán lãi chậm trả. Tại phiên tòa, nguyên đơn xin rút yêu cầu tính lãi. Xét thấy, yêu cầu của nguyên đơn là tự nguyện, không trái quy định của pháp luật, cần được đình chỉ.

Về án phí: Do toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn được Toà án chấp nhận nên nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch. Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch tương ứng với phần yêu cầu của nguyên đơn đối với bị đơn được Tòa án chấp nhận nhưng được miễn án phí do là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng các Điều 357, 463, 464, 465, 466 và 468 Bộ luật Dân sự; khoản 1 Điều 147, Điều 227, Điều 244, Điều 266, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm d khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đinh Dũng S. Buộc bị đơn ông Vì Văn M phải thanh toán cho ông Đinh Dũng S và bà Nguyễn Thị N số tiền nợ gốc là 8.000.000VNĐ (Tám triệu đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành (ông Đinh Dũng S) cho đến khi thi hành án xong, Anh Lò Văn Liên và ông Lò Văn Mầng còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

2. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với ông Vì Văn M về yêu cầu tính lãi chậm trả từ ngày 30/11/2014 đến nay do nguyên đơn rút yêu cầu.

3. Về án phí: Nguyên đơn ông Đinh Dũng S không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.

Bị đơn ông Vì Văn M được miễn án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

Nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ