- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản giữa ngân hàng Q và anh Đ"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 37/2023/DS-ST Ngày: 28/7/2023 V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Văn Bảnh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tấn Để
Bà Hồ Thị Hoa
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Hồng Nhung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên toà: Ông Trần Văn Ý - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 7 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 30/2022/TLST-DS ngày 14 tháng 3 năm 2022 về “tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 96/2023/QĐXXST-DS ngày 09 tháng 6 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Q
Địa chỉ: phường B, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền: Danh Hoài H, là cán bộ Ngân hàng TMCP Q.
- Bị đơn:
+ Anh Trần Thanh Đ , sinh năm 1981
Địa chỉ: ấp C, xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang.
+ Chị Thị Mộng T , sinh năm 1984
Địa chỉ: khu phố L, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng, người đại diện của Ngân hàng TMCP Q trình bày: Ngân hàng Q ký hợp đồng tín dụng ngày 27/5/2019 với vợ chồng anh Trần Thanh Đ , chị Thị Mộng T , giải ngân số tiền 340.000.000đồng, thời hạn vay 84 tháng, lãi suất ưu đãi 12 tháng tại thời điểm giải ngân 9,2%/ năm, lãi suất thông thường bằng lãi suất cơ sở + biên độ 4,1%, mục đích vay để mua xe ôtô nhãn hiệu Accent. Ngoài ra, ngày 09/3/2020 ngân hàng đã phát hành thẻ tín dụng cho anh Đ với hạn mức tín dụng là 20.000.000đồng. Quá trình vay, vợ chồng anh Đ đã thanh toán được 159.423.761 đồng, trong đó gốc là 96.981.016đồng, lãi 62.442.745đồng. Sau đó vợ chồng anh Đ vi phạm nghĩa vụ trả nợ, tạm tính đến ngày 28/7/2023 anh Đ , chị T còn nợ là 422.983.610đồng, trong đó gốc là 243.018.984đồng, nợ lãi 91.692.169đồng, nợ thẻ 88.272.457đồng.
Nay ngân hàng khởi kiện yêu cầu vợ chồng anh Đ , chị T trả ngay cho ngân hàng số tiền tạm tính đến ngày 28/7/2023 là 422.983.610đồng, trong đó gốc là 243.018.984đồng, nợ lãi 91.692.169đồng, nợ thẻ 88.272.457đồng. Đồng thời tiếp tục tính lãi, lãi quá hạn cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ theo hợp đồng tín dụng.
Đối với chiếc xe ô tô nhãn hiệu Hyundai Accent, biển số đăng ký 68A-13157 hiện nay ngân hàng không biết ở đâu, không biết ai đang quản lý. Ngân hàng không có yêu cầu gì đối với chiếc xe, trường hợp vợ chồng anh Đ thanh toán xong nghĩa vụ trả nợ thì ngân hàng sẽ trả lại bản gốc giấy đăng ký xe.
* Bị đơn anh Trần Thanh Đ , chị Thị Mộng T vắng mặt, không có lời trình bày.
Tại phiên tòa sơ thẩm:
Người đại diện của ngân hàng yêu cầu vợ chồng anh Đ , chị T trả ngay cho ngân hàng số tiền tạm tính đến ngày ngày 28/7/2023 là 422.983.610đồng, trong đó gốc là 243.018.984đồng, nợ lãi 91.692.169đồng, nợ thẻ 88.272.457đồng. Đồng thời tiếp tục tính lãi, lãi quá hạn cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ theo hợp đồng tín dụng.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm: Về thủ tục tố tụng, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình, bị đơn anh Đ , chị T vắng mặt tại phiên họp và phiên tòa lần thứ 2 mà không có lý do là chưa chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về hướng giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Nguyên đơn Ngân hàng TMCP Q khởi kiện yêu cầu anh Trần Thanh Đ, chị Thị Mộng T trả lại số tiền vay theo hợp đồng ngày 27/5/2019 và hợp đồng mở thẻ tín dụng ngày 09/3/2020. Theo Điều 463 Bộ luật Dân sự và khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự, quan hệ pháp luật trong vụ án này là “tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
Tòa án tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng bị đơn anh Đ , chị T vắng mặt, không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa sơ thẩm nhưng anh Đ , chị T vắng mặt lần thứ hai không có lý do là chưa chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Do đó, Hội đồng xét xử thống nhất áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vụ án vắng mặt anh Đ , chị T .
Ngân hàng TMCP Q khởi kiện cho rằng anh Đ , chị T có vay tại ngân hàng số tiền 340.000.000đồng theo hợp đồng ngày 27/5/2019 và số tiền 20.000.000đồng theo hợp đồng mở thẻ tín dụng ngày 09/3/2020. Quá trình thực hiện hợp đồng anh Đ , chị T chỉ thanh toán cho ngân hàng số tiền gốc là 96.981.016đồng, lãi 62.442.745đồng. Anh Đ , chị T đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ gốc và lãi phát sinh, tạm tính đến ngày 28/7/2023 anh Đ , chị T còn nợ ngân hàng số tiền là 422.983.610đồng, trong đó gốc là 243.018.984đồng, nợ lãi 91.692.169đồng, nợ thẻ 88.272.457đồng.
Hội đồng xét xử xét thấy, căn cứ quy định tại Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự về nghĩa vụ chứng minh, hợp đồng tín dụng ngày 27/5/2019, bản sao kê giao dịch tài khoản thẻ tín dụng và lời trình bày của người đại diện cho ngân hàng tại phiên tòa sơ thẩm có đủ cơ sở để kết luận anh Đ , chị T có vay tiền tại ngân hàng TMCP Q, anh Đ , chị T đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ gốc và lãi phát sinh, tạm tính đến ngày 28/7/2023 anh Đ , chị T còn nợ ngân hàng số tiền là 422.983.610đồng, trong đó gốc là 243.018.984đồng, nợ lãi 91.692.169đồng, nợ thẻ 88.272.457đồng. Trong suốt quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay, vợ chồng anh Đ , chị T vắng mặt, không cung cấp, giao nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án. Còn nguyên đơn là người đại diện của ngân hàng đã thực hiện nghĩa vụ cung cấp chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình là hợp đồng tín dụng ngày 27/5/2019, bản sao kê giao dịch tài khoản thẻ tín dụng. Xét thấy yêu cầu khởi kiện của ngân hàng TMCP Q là hoàn toàn có căn cứ, phù hợp quy định tại Điều 463, Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015 và Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng.
Đối với yêu cầu của ngân hàng TMCP Q yêu cầu anh Đ , chị T tiếp tục chịu lãi phát sinh theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ. Theo Án lệ số 08/2016/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 17 tháng 10 năm 2016 và được công bố theo Quyết định số 698/QĐ-CA ngày 17 tháng 10 năm 2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao thì "đối với các khoản tiền vay của tổ chức Ngân hàng, tín dụng, ngoài khoản tiền nợ gốc, lãi vay trong hạn, lãi vay quá hạn, phí mà khách hàng vay phải thanh toán cho bên cho vay theo hợp đồng tín dụng tính đến ngày xét xử sơ thẩm, thì kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay”. Xét thấy, yêu cầu này của ngân hàng là phù hợp nên được chấp nhận.
Đối với chiếc xe ô tô nhãn hiệu Hyundai Accent, biển số đăng ký 68A-13157 hiện nay ngân hàng không biết ở đâu, không biết ai đang quản lý và không có yêu cầu gì đối với chiếc xe. Trường hợp anh Đ , chị T thanh toán xong nghĩa vụ trả nợ thì ngân hàng sẽ trả lại bản gốc giấy đăng ký xe cho anh chị.
Từ những nhận định trên, sau khi thảo luận, Hội đồng xét xử nghị án nên chấp nhận ý kiến đề xuất của Kiểm sát viên, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ngân hàng TMCP Q.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án.
Anh Đ , chị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là: 20.000.000đồng + 4% x 22.983.610đồng = 20.920.000đồng (làm tròn).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, Điều 35, Điều 147, Điều 227, Điều 266, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng các Điều 463, 466 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 91, 95 Luật Các tổ chức tín dụng; Án lệ số 08/2016/AL;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn ngân hàng thương mại cổ phần Q.
Buộc anh Trần Thanh Đ , chị Thị Mộng T có nghĩa vụ trả cho ngân hàng thương mại cổ phần Q số tiền tính đến ngày 28/7/2023 là 422.983.610đồng (bốn trăm hai mươi hai triệu chín trăm tám mươi ba nghìn sáu trăm mười đồng), trong đó gốc là 243.018.984đồng (hai trăm bốn mươi ba triệu không trăm mười tám nghìn chín trăm tám mươi bốn đồng), nợ lãi 91.692.169đồng (chín mươi mốt triệu sáu trăm chín mươi hai nghìn một trăm sáu mươi chín đồng), nợ thẻ 88.272.457đồng (tám mươi tám triệu hai trăm bảy mươi hai nghìn bốn trăm năm mươi bảy đồng).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 28/7/2023) anh Trần Thanh Đ , chị Thị Mộng T còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
Trường hợp anh Đ , chị T thanh toán xong nghĩa vụ trả nợ thì ngân hàng thương mại cổ phần Q trả lại bản gốc giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô, tên chủ xe Trần Thanh Đ , biển số đăng ký 68A-13157 ngày 27/5/2019 cho anh Đ , chị T .
2. Về án phí sơ thẩm:
Anh Đ , chị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 20.920.000đồng (hai mươi triệu chín trăm hai chục nghìn đồng).
Ngân hàng thương mại cổ phần Q được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 6.974.000đồng (sáu triệu chín trăm bảy mươi bốn nghìn đồng) theo lai thu số 0005276 ngày 04/3/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang.
3. Các đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, riêng các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm là 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày nhận bản án hoặc niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Kiên Giang; - VKSND huyện An Minh; - Chi cục THADS huyện An Minh; - Các đương sự; - Lưu HS, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lê Chí Công Bùi Văn Bảnh |