- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "tranh chấp hợp đồng tín dụng"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần A như sau:
- Căn cứ chính? Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƯƠNG THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 37/2023/DS-ST Ngày 27-9-2023 V/v tranh chấp Hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƯƠNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Lý
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Đỗ Văn Thư
Bà Nguyễn Thị Thoa
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Minh Trang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thùy Chi, Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 56/2023/TLST-DS ngày 27 tháng 06 năm 2023 về việc tranh chấp Hợp đồng tín dụng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 30/2023/QĐXXST-DS ngày 24 tháng 07 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 56/2023/QĐST-DS ngày 08 tháng 9 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần A
Trụ sở chính: Phường 5, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn: Bà Đào Thị L - (Văn bản ủy quyền số 1669/UQ-CNTL.22 ngày 10 tháng 12 năm 2022); có mặt.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T ; ĐKHKTT: xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng.Nơi cư trú: Thôn 1, xã B, huyện A, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Vũ Thị T ; Nơi cư trú: Thôn 1, xã B, huyện A, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 10 tháng 12 năm 2022 của nguyên đơn là Ngân hàng thương mại cổ phần A (sau đây gọi tắt là Ngân hàng), bản tự khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Ngày 25 tháng 6 năm 2016, giữa Ngân hàng và anh Nguyễn Văn T đã ký Hợp đồng tín dụng trả góp (Dùng cho vay tiêu dùng tín chấp -VND) số: QTO.CN.20.250616 (Số tài khoản vay 218702759). Số tiền vay là 50.000.000 đồng để tiêu dùng, thời hạn vay 24 tháng, lãi suất là 12%/ năm, lãi suất vay dưới 30 ngày là 17,40%/năm, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất vay trong hạn. Chị Vũ Thị T đã ký giấy cam kết về việc trả nợ ngày 25/06/2023 cho anh T nếu anh T không trả được nợ. Anh Nguyễn Văn T đã nhận đủ tiền, sau đó anh T vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Ngay sau khi anh T vi phạm nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng có đôn đốc trả nợ nhưng sau đó không liên lạc được với anh T . Ngân hàng yêu cầu anh T phải trả Ngân hàng tính đến hết ngày 27/9/2023 số tiền gốc là 45.834.000 đồng, lãi trong hạn là 2.633.333 đồng, lãi quá hạn là 55.734.144 đồng, phạt chậm trả lãi là 4.600.000 đồng. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất mà hai bên đã thỏa thuận trong Hợp đồng đã ký kết. Nếu anh T không trả được nợ thì chị T phải có trách nhiệm trả nợ thay cho anh Tuấn.
Bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến gì, mặc dù đã được tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ.
Tại phiên tòa Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự; bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chưa tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Kiểm sát viên đề nghị Tòa án căn cứ vào các quy định của pháp luật chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn phải thanh toán trả cho nguyên đơn số tiền nợ gốc và tiền lãi chưa thanh toán theo mức lãi suất mà hai bên đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng. Không chấp nhận lãi phạt quá hạn của nguyên đơn. Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được xem xét tại phiên toà, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Bị đơn có địa chỉ ở xã B , huyện A, thành phố Hải Phòng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do và cũng không thông báo về việc hiện nay đang ở đâu cho Ngân hàng. Vì vậy, căn cứ vào các điều 26, 35, 39, 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng có thẩm quyền giải quyết vụ án và Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan .
Về yêu cầu của nguyên đơn:
Hợp đồng được ký ngày 25 tháng 06 năm 2016 nên áp dụng Bộ luật Dân sự năm 2005 để giải quyết.
Căn cứ vào hợp đồng đã được ký kết, bản cam kết trả nợ, bảng lịch trình trả nợ, sao kê quá trình trả nợ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã có đủ căn cứ xác định:
Ngày 25 tháng 6 năm 2016, giữa Ngân hàng và anh Nguyễn Văn T đã ký Hợp đồng tín dụng trả góp (Dùng cho vay tiêu dùng tín chấp-VND) số: QTO.CN.20.250616 (Số tài khoản vay 218702759). Số tiền vay là 50.000.000 đồng để tiêu dùng, thời hạn vay 24 tháng, lãi suất là 17,40%/ năm, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất vay trong hạn. Chị Vũ Thị T đã ký giấy cam kết về việc trả nợ ngày 25/06/2023 cho anh T nếu anh T không trả được nợ. Anh Nguyễn Văn T đã nhận đủ tiền, sau đó anh T vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Ngay sau khi anh T vi phạm nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng có đôn đốc trả nợ.
Xét việc ký hợp đồng ngày 25 tháng 06 năm 2016, sau đó anh T vi phạm trả nợ, Ngân hàng cũng thông báo đôn đốc để thương lượng về việc trả nợ. Mặt khác, đương sự không đề nghị áp dụng thời hiệu, vì vậy yêu cầu của Ngân hàng về việc tính lãi suất trong hạn, quá hạn được chấp nhận. Căn cứ Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/1/2019 thì hợp đồng tín dụng ký trước ngày 01/01/2017 vì vậy yêu cầu tính phạt lãi suất chậm trả của Ngân hàng không được chấp nhận.
Căn cứ Điều 471,474,361,362 Bộ luật Dân sự 2005 chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc anh T phải trả cho Ngân hàng tính đến hết ngày 27/9/2023 số tiền gốc là 45.834.000 đồng, lãi trong hạn là 2.633.333 đồng, lãi quá hạn là 55.734.144 đồng. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất mà hai bên đã thỏa thuận trong Hợp đồng đã ký kết. Nếu anh T không trả được nợ thì chị T phải có trách nhiệm trả nợ thay cho anh T .
Về án phí: Bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm. Nguyên đơn chịu án phí đối với yêu cầu không được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các điều 26, 35, 39, 147, 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 471, 474, 361, 362 Bộ luật Dân sự 2005; Điều 91, Điều 95 của Luật Các tổ chức tín dụng; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần A như sau:
Anh Nguyễn Văn T phải trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần A số tiền tính đến hết ngày 27/9/2023: Số tiền gốc là 45.834.000 đồng, lãi trong hạn là 2.633.333 đồng, lãi quá hạn là 55.734.144 đồng. Tổng cộng là 104.201.477 đồng.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất trong hạn, quá hạn mà hai bên đã thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng ngày 25 tháng 06 năm 2016.
Nếu anh Nguyễn Văn T không thanh toán được nợ thì chị Vũ Thị T phải trả nợ cho Ngân hàng thương mại cổ phần A.
- Không chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng thương mại cổ phần A về việc yêu cầu anh Nguyễn Văn T phải trả số tiền phạt chậm trả lãi là 4.600.000 đồng.
3. Về án phí: Anh Nguyễn Văn T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 5.210.000 đồng.
Ngân hàng thương mại cổ phần A phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp. Trả lại cho Ngân hàng thương mại cổ phần A số tiền tạm ứng án phí còn lại là 1.861.000 đồng tại Biên lai thu tiền tạm ứng án phí đã nộp số 0004516 ngày 19 tháng 04 năm 2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện An Dương, thành phố Hải Phòng.
4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
5. Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7a và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Đương sự; - TAND TP Hải Phòng; - VKSND TP Hải Phòng; - VKSND H An Dương; - Chi cục THADS huyện An Dương; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Hồng Lý |